Hôm nay,  

Sài Gòn Ơi

12/08/202111:41:00(Xem: 5367)


Tôi ở đây, lòng tôi ở Sài gòn
Tôi không thể vui khi thành phố đang buồn
Tôi mở cửa trái tim, hướng về trời biển
Tôi nguyện cầu cho đất nước tôi thương

Sài gòn ơi đường phố vắng không người
Vào những ngày cơn ác mộng khôn nguôi
Tôi muốn nói về một niềm hy vọng
Niềm tin yêu và hy vọng đời đời

Tôi yêu Sài gòn, tôi yêu Việt Nam
Tôi yêu dân Việt, tôi yêu cội nguồn
Tôi mong thấy niềm tin trên đất Việt
Hãy kêu cầu Đấng Tạo Hóa yêu thương

Khi không thể trông mong gì nơi đất
Sài gòn ơi, hãy ngước mắt lên trời
Dù cơn bão làm tan hoang thành phố
Còn chút tình viễn xứ ở xa xôi

Tôi ngồi đây, lòng tôi ở Sài gòn
Tôi nguyện cầu cho đất nước đau thương
Tôi hy vọng thấy một ngày nào đó
Người lại đi chật chội những con đường

Trần Nguyên Đán

LTG: Khi tôi xem những video trên youtube về những cảnh tượng người dân bỏ chạy khỏi Sài gòn trên những chiếc xe đạp, xe gắn máy chất đầy người, hành lý cồng kềnh, cảnh Sài gòn giới nghiêm không một bóng người, cảnh người dân nuôi nhau bằng các vật thực họ có được, cảnh người ta nằm trong bệnh viện, chết trên băng ca, tôi cầu nguyện cho một Sài gòn đau thương, mong cầu bình an đến với họ, mong cầu họ tìm đến một Đấng Tạo Hóa yêu thương, mong thấy một ngày Sài gòn lại chật chội người đi trên đường như xưa, và tôi viết Sài gòn Ơi, đăng lên facebook. Isaac Thái vào lấy bài thơ ấy để phổ nhạc và hát. Tôi chỉ muốn gửi tới đồng bào Việt Nam, tất cả mọi người, không nội ngoại gì hết, vì Đức Chúa Trời tạo dựng con người và yêu hết thảy mọi người, một lời cầu nguyện, một chia sẻ chân thành của một người xa xứ gửi cho những người còn đang ở trong xứ.

Nếu có ai hỏi: “Anh tin vào triết học hiện sinh không?”, tôi sẽ trả lời: “Không, nhưng tôi đã nghe Trăng Tàn Trên Hè Phố và tin rằng con người sống trong chiến tranh, cần hát để tồn tại.” Sartre từng nói: “Existence precedes essence” – tồn tại có trước bản chất. Bolero thì nói: “Trăng tàn trên hè phố,” ai buồn hơn ai? Câu hỏi ấy, kỳ lạ thay, vạch ra, đời không có sẵn bản chất, chỉ có sẵn buồn. Trong quán rượu ở Biên Hòa năm 1972, có thể một người lính vừa hát vừa nghĩ: “Nếu tôi chết đêm nay, trăng vẫn sẽ tàn, nhưng ai sẽ nhớ rằng tôi từng tồn tại?” Đó chính là being-for-itself của Sartre — tồn tại hướng về hư vô. Còn giọng bolero là being-for-tears — tồn tại hướng về… nước mắt.
Theo Ali Watkins và Josephine de La Bruyère, viết trên The New York Times ngày 30 tháng 3 năm 2026, ba bức tranh của Renoir, Cézanne và Matisse đã bị lấy cắp trong một vụ đột nhập chớp nhoáng tại Phòng Tranh của Magnani-Rocca Foundation, một viện bảo tàng tư gần thành phố Parma, miền bắc nước Ý. Nhà chức trách Ý cho biết vụ trộm xảy ra trong đêm 22 tháng 3. Nhóm trộm đột nhập qua cửa chính của viện bảo tàng, rồi lấy đi ba tác phẩm chỉ trong vòng ba phút. Cảnh sát Carabinieri, đang điều tra vụ này, cho rằng đây là một phi vụ được tổ chức kỹ lưỡng và có chuẩn bị từ trước.
Có một lần ngồi nhâm nhi ly rượu vang Ý tại một quán nhỏ bên bờ kênh đào thơ mộng của Venice, nhìn những căn nhà cổ soi bóng nước, nhìn tài tử giai nhân dập dìu qua lại, tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ cổ điển người Ý Antonio Vivaldi. Ông sinh ra ở thành phố tình yêu này. Một xứ sở với thiên nhiên đẹp, con người đẹp, âm nhạc đẹp, thì người ta dễ yêu nhau lắm, mùa nào cũng là mùa của tình yêu! Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi chính là bản Concerto Bốn Mùa soạn cho violin và dàn nhạc. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp, vẽ phong cảnh sống động của bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, được phát họa bằng những nốt nhạc. Tổ khúc có bốn concerto; mỗi concerto có ba chương ngắn với bốn chủ đề Xuân-Hạ-Thu- Đông. Có lần một người bạn hỏi tôi làm sao để cảm nhận được rằng âm nhạc cổ điển có thể tả cảnh mà không sử dụng đến lời ca? Tôi đề nghị bạn nghe tổ khúc Bốn Mùa. Nghe nhạc cổ điển không lời cần nhiều đến trí tưởng tượng
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong những ngày phong tỏa vì Covid-19 năm 2020, tại thị trấn Zutphen, miền đông Hòa Lan, bà Charlotte Meyer vô tình mở lại một ngăn kéo cũ trong nhà – và bất ngờ đánh thức một “kho tàng” mỹ thuật đã ngủ quên gần một thế kỷ: 35 bản khắc kim nguyên bản của Rembrandt van Rijn. Tập tranh khắc này vốn do ông nội bà, một nhà sưu tầm nghiệp dư, mua dần dần trong khoảng từ 1900 đến 1920 với giá chỉ vài đồng guilder mỗi tờ, vào thời mà tranh in chưa được xem là thứ nghệ thuật đáng kể, rồi được gói ghém lại như một thứ kỷ vật gia đình và dần rơi vào quên lãng.
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn. Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế. Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc.
Ngay dịp Valentine năm nay, hãng Warner Bros. cho ra mắt bộ phim “Wuthering Heights” – phóng tác mới nhất từ tiểu thuyết “Đỉnh Gió Hú” của Emily Brontë. Phim do Emerald Fennell – nữ đạo diễn Anh từng gây tiếng vang với “Promising Young Woman” và “Saltburn” – viết kịch bản và đạo diễn, với Margot Robbie đóng vai Cathy và Jacob Elordi trong vai Heathcliff. Ngay phần giới thiệu đầu phim, Fennell chỉ ghi lời khiêm tốn “dựa theo tiểu thuyết của Emily Brontë”, và còn để nhan đề trong ngoặc kép, như muốn nói đây là một phiên bản riêng, không phải chuyển thể “theo sách”.
Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.