Hôm nay,  

Ông Già Noel khóc

23/12/202309:40:00(Xem: 2641)
Truyện

Xmas_image 3

Không hiểu sao Ông Già Noel lại đọc được tất cả thư của trẻ em trên khắp thế giới! Vậy Ông là ai? Ông có thật hay không? Nhà của Ông ở đâu? Đó là những câu hỏi quá quen thuộc mà các bé vẫn đặt ra, làm cha mẹ của các bé khó trả lời, có chăng là những câu trả lời để tránh làm các bé thất vọng.
    Ông Già Noel cũng không trả lời được luôn!
    Bởi vì Ông biết có rất, rất nhiều Ông Già Noel ở khắp nơi. Cho nên Ông không muốn giành một vị trí đặc biệt. Ông có thể chỉ là do trí tưởng tượng mà có, mặc dù mọi người đều biết có một vị thánh được xem là Ông Già Noel nguyên thủy. Nhưng không hiểu tại sao Ông đây lại có thể đọc được thư của các bé, một khi bé đã viết thư cho Ông.
    Vâng, một khi bé đã viết thư cho Ông, thì Ông sẽ đọc được. Có bé gửi thư qua đường bưu điện, có địa chỉ, tên người gửi và người nhận, có dán tem hẳn hoi. Đương nhiên tên người nhận là Santa Claus, và bé sẽ nhận được một món quà. Nhưng cũng có nhiều bé để thư ở đầu giường, chân giường, hoặc ở trước lò sưởi, đâu đó trong nhà của mình. Và Ông cũng đọc được. Thường thì các bé khoe với Ông là mình rất ngoan, chăm học, vâng lời cha mẹ thầy cô, kế đó là trình bày một điều ước rằng Ông sẽ cho bé quà. Có bé chỉ xin một món đồ chơi. Nhưng cũng có rất nhiều bé ghi rõ cho Ông Già Noel cả một “wish list” dài. Cũng không vì bé tham, mà vì mỗi năm Ông Già Noel chỉ đến với bé một lần.
    Có một bức thư, không gửi bưu điện, mà để trên bàn học. Ông Già Noel đọc được.
    “Santa Claus thân yêu,
    “Cháu ở Newtown. Đã mười năm nay cháu không viết thư cho Ông. Không phải cháu ghét Ông, mà bởi vì cháu quá buồn. Ông có biết không, vào năm 2012, giữa tháng 12, khi cháu vừa mới gửi thư đi cho Ông thì một chuyện buồn xảy ra. Cháu không hiểu vì sao các bạn nhỏ ở tuổi lên sáu lại biến mất khỏi cõi đời này, chỉ vì một tay súng trẻ điên cuồng. Cháu không hiểu vì sao người ta coi súng đạn như trò chơi. Cha mẹ của cháu không giải thích rõ ràng cho cháu, vì thật ra họ cũng không hiểu vì sao. Noel năm đó cháu nhận được một món quà đúng như ý thích của cháu, nhưng cháu không thích nữa. Cháu nghĩ chắc Santa Claus quá bận rộn nên không chú ý đến những chuyện buồn như vậy. Ông quá bận rộn, cháu hiểu, bởi vì Ông phải lo vô số món quà cho vô số bé ở khắp mọi nơi. Và thế là cháu thu mình lại trong nỗi buồn cùng với sự ray rứt. Tại sao? Tại sao? Cháu hỏi rồi cháu tự trả lời. Vậy đó Ông, Santa Claus thân yêu!
    “Nhưng năm nay cháu đã mười bảy tuổi. Cháu giật mình. Thế mà các bạn nhỏ ngày đó, ở Newtown, không được lớn lên. Cũng như những bạn nhỏ ở Uvalde, và ở nhiều nơi khác nữa, trên đất nước này. Nghĩ thế rồi cháu lại cảm thấy đau khổ. Rồi cháu nghĩ có thể cháu phải tâm sự với Ông Già Noel, Santa Claus. Lâu nay cháu chỉ xem Ông là một ông tiên nhân từ vui vẻ. Nhưng ngay lúc này, cháu mong muốn Ông trở thành một người bạn của cháu, Ông ơi!
    “Cháu dừng đây! Cháu chỉ để thư trên bàn học, không hy vọng Ông đọc nó. Bởi vì cháu đã lớn, đã biết Ông Già Noel không có thật.”
    Ông Già Noel nghe hai mắt mình cay xé. Đã bao nhiêu năm nay Ông đọc những bức thư, không biết bằng cách nào Ông có được, ghi những lời lẽ ngây thơ vụng về. Ông nào hay có những góc thật sâu trong lòng các bé chứa những nỗi đau không diễn tả được, những nỗi ám ảnh lớn lên cùng các bé. Ông từng biết đến là đại diện cho niềm vui, cho sự hân hoan sung sướng, và vô tư như tiếng nhạc rộn ràng “Jingle Bells” vang lên mỗi dịp Noel. Ông bay đi khắp nơi, miền nào Ông cũng ghé chân. Ông vào nhà qua ống khói của lò sưởi, như truyền thuyết, đặt những món quà cạnh lò sưởi. Mà đâu phải nhà nào cũng có lò sưởi! Không sao, Ông rón rén đến bên giường, bên bàn học, thậm chí trong một góc bếp, đặt những gói quà, dành sự ngạc nhiên cho các bé khi chạy đi tìm vào sáng hôm sau. Chỉ vậy thôi.
 
***
 
    “Chào bé!”
    “Ô! Ông là Ông Già Noel?”
    “Phải rồi!”
    “Ông là Ông Già Noel thật hở?”
    “Có Ông Già Noel giả sao?”
    “Ý cháu muốn nói là Ông đến với cháu thật ư?”
    “Thật chứ!”
    “Ông cười đi!”
    “Hô! Hô! Hô!”
    Em bé sung sướng ôm chặt lấy Ông. Em cũng đã từng ôm Ông Già Noel, chụp đủ kiểu hình với Ông, chính là những Ông Già Noel trong các khu thương xá. Họ cũng biết cười “hô hô hô” như Ông vậy. Dù biết đó là người hóa trang, nhưng em cũng vui lắm, vì mỗi năm chỉ có một lần. Nhưng lần này, em tin rằng đây là Ông Già Noel thật, không phải hóa trang. Bởi vì Ông đã đến trong giấc mơ của em.
 
***
 
    “Chào bé!”
    “Sao Ông vào được đây?”
    “Ông cũng không biết nữa! Cháu mệt lắm phải không?”
    “Vâng cháu mệt lắm! Nhưng cháu cũng viết được lá thư gửi Ông rồi.”
    “Ông đã đọc. Ông sẽ tặng cháu món quà cháu muốn.”
    Ông lấy trong chiếc túi lớn ra món quà cho em. Một mái tóc! Em vui mừng đội ngay mái tóc lên đầu. Gương mặt em sáng trưng dưới mái tóc óng mượt. Em nói trong tiếng thở khó khăn:
    “Cám ơn Ông, Ông Già Noel.”
    “Cháu mau khỏe lại nhé!”
    “Vâng. Cháu ao ước khi lớn lên cháu sẽ làm việc ở địa chỉ North Pole, để mỗi năm cháu giúp mọi người đọc thư, mua quà, gói ghém gửi qua bưu điện cho các bé như cháu.”
    “Cháu sẽ làm được.”
    “Vâng. Xin cám ơn Ông, vì Ông đã vào trong giấc mơ của cháu.”
 
***
 
Và như thế, Ông đã đi vào giấc mơ của các bé. Ông cũng nhìn các bé trong thực tại, xem các bé học, xem các bé chơi, xem các bé sinh hoạt ra sao. Ông bàng hoàng khi đến những vùng đang xảy ra chiến tranh. Những em bé Ukraine co ro trong hầm trú giữa mùa đông lạnh giá. Những em bé ở Gaza lạc cha mẹ trên đường chạy loạn hay bơ vơ trong bệnh viện. Những em bé bám trên lưng cha mẹ rời bỏ mảnh đất nghèo khó bất ổn, vượt sông vượt rừng, không biết sẽ đến nơi đâu. Còn nữa, những em bé Phi châu quanh năm thiếu ăn thiếu mặc, gầy ốm trơ xương. Những em bé sau đại dịch trở thành trẻ mồ côi. Các em không có tuổi thơ, hoặc có, là một tuổi thơ bị cướp mất.
    Ông đến xứ Việt, nơi mà tên của Ông được viết thành “Ông Già Nô-en” một cách gần gũi vì dễ đọc. Dù mùa đông không có tuyết, thậm chí nóng bức, người ta vẫn thích có Ông Già Nô-en mỗi mùa Giáng Sinh.
    “Chào bé!”
    “A! Ông Già Nô-en!”
    “Bé biết Ông hở?”
    “Dạ biết. Cháu thấy hình của Ông trong mấy tiệm đồ chơi. Nhưng cháu chưa hề viết thư cho Ông. Cháu không biết chữ.”
    “Ô… Ông… hiểu rồi!”
    “Nhưng cháu cũng muốn có quà. Ông có thể cho cháu không?”
    “Có chứ! Bé muốn quà gì?”
    “Cháu không xin quà cho cháu, mà xin Ông giúp ba má cháu có việc làm khá, không phải ở nhà lụp xụp, để cháu có thì giờ đi học. Bây giờ thì mỗi ngày cháu phải đi lượm đồ ve chai, sắt thép vụn, giúp ba má có thêm tiền. Ông Già Nô-en ơi! Ông có giúp được không? Một bạn nhỏ trong khu xóm của cháu, cuối năm rồi đi lượm sắt vụn, té xuống trụ bê-tông chôn sâu dưới đất, hai mươi ngày sau mới đem lên được. Bạn ấy chết rồi Ông ơi! Cháu cũng xin Ông giúp cho tất cả bạn nhỏ như giúp cho cháu. Ông ơi! Ông có giúp được không?”
    Ông Già Noel bị hất ra khỏi giấc mơ của đứa trẻ. Ông chưa kịp hứa hẹn gì. Ông bàng hoàng, chợt nhận ra món quà mà cậu bé xin quá lớn. Ông đã thấy từng tốp người, đa số là phụ nữ và trẻ con, lang thang lượm từng cái lon, từng hộp giấy trên những bãi rác khổng lồ, hoặc tìm kim loại vụn trên đất công trường xây dựng. Các em chắc chẳng có thì giờ nghĩ về Ông Già Nô-en? Hay các em cũng có lúc dán mắt vào những tủ kính, thèm muốn những món đồ chơi, và ước ao được Ông Già Nô-en cho quà? Chiếc xe thần thoại của Ông Già Nô-en bay qua những vùng đen tối không ánh đèn, nơi có những người lớn và trẻ em kiếm sống bằng nghề lượm rác, rồi vọt ra những vùng rực rỡ, đèn sáng trưng như hội sao. Chỉ cách một cây cầu, hoặc một khúc đường, là hai cảnh đời trái ngược.
    Ông đã phân phát hết túi quà, nhưng sao Ông không nghe vui? Lòng nặng trĩu, Ông ngồi xuống trong bóng tối. Ông ngồi trong sự im lặng đáng sợ, rồi chợt nghe nhịp tim mình vang to như tiếng vọng từ lòng giếng sâu. Ôi chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai đã giày xéo trái đất này. Chưa hết, còn sự bất an của xã hội nữa. Làm sao để trẻ thơ có thể hưởng cuộc sống ấm êm? Ông không phải là Thượng Đế để làm nên sự thay đổi hoàn toàn. Ông cảm thấy nước mắt mình rơi xuống.
    Bỗng dưng Ông ao ước có một Ông Bụt, một Ông Bụt trong truyện cổ tích Việt, hiện ra và hỏi Ông: “Vì sao lại khóc?” Ồ! Ông đâu phải là trẻ nhỏ. Ông chưa từng nói lên niềm ao ước của mình. Cả đời ông chỉ biết đáp lại niềm ao ước của các trẻ nhỏ. Ông không có tuổi, hay đã có cả ngàn năm? Santa Claus đã chết, nhưng biểu tượng Ông Già Noel vẫn được nuôi sống mãi. Tuy hình ảnh đó được nhân lên, được thương mại hóa, các Ông Già Noel có mặt ở mọi nơi mỗi dịp Giáng Sinh về, nhưng đó phải chăng là do con người vẫn muốn tôn vinh một biểu tượng của lòng rộng lượng và nhân ái? Ông mong là như thế.
    Ông cho tay vào chiếc túi lớn Ông thường vác trên lưng. Ông muốn tự tặng cho mình một món quà. Chỉ còn lại một viên kẹo, không biết từ gói quà nào rơi ra. Viên kẹo như con cá bống sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm, một cô Tấm ngoan hiền nhân hậu trong truyện cổ tích Việt, chỉ biết thương yêu, không biết trả thù. Như còn sót lại cho Ông một niềm hy vọng!

 

– Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Noel 2023

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.