Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người.
Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Niêm Hoa Vi Tiếu là một trong những giai thoại Phật Giáo nổi tiếng. Tương truyền rằng trong một dịp Đức Phật thuyết pháp tại Linh Sơn, ngài đưa một cành hoa lên (niêm hoa) để khai thị cho đại chúng. Chỉ có ngài Ca-diếp mỉm cười (vi tiếu). Đức Phật nói: Ta có Chánh Pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, phó chúc cho Ma-ha Ca-diếp để lưu truyền trong tương lai. Vì là truyền tâm, cái tâm tuyệt đối, cho nên chỉ những người có đủ căn cơ mới nhận ra được. Không thể dùng ngôn ngữ thế gian mà thuyết giảng. Đây cũng chính là yếu chỉ của Thiền tông Đông Độ.
Vẫn liên quan đến Phật Giáo, trong tác phẩm Vào Thiền của nhà văn Doãn Quốc Sỹ có một giai thoại thiền ở ngay đầu sách: có một người ở thế tự treo lơ lửng trên một bờ vực thẳm, răng cắn lấy một cành cây để giữ toàn thân không bị rơi xuống. Thế rồi, trên một mỏm đá gần đó có người cúi xuống hỏi “Này anh, thiền là gì?” Không trả lời? Thua cuộc. Trả lời? Nát thây dưới đáy vực. Giải thích về thiền, tìm hiểu về thiền qua lời nói đơn thuần nguy hiểm như vậy đó! Dùng ngôn ngữ để diễn đạt các khái niệm, kinh nghiệm về thiền có khi dẫn đến sự hiểu lầm, hiểu không đầy đủ.
Ngôn ngữ không chỉ bất lực trong tôn giáo. Khoa học là một lĩnh vực thường có thể được giải thích tường tận, rõ ràng bằng ngôn ngữ, không thể hiểu lầm. Những học sinh trung học bắt đầu môn vật lý với Định Luật Quán Tính Newton: “Một vật không chịu tác dụng của lực nào, hoặc chịu tác dụng của các lực có hợp lực bằng không thì vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều.” Từ những định luật của Newton, các nhà khoa học tạo ra nhiều phát minh hữu ích cho nhân loại. Nhưng rồi ngành vật lý hiện đại phát triển, khám phá những khái niệm mới mà nhiều nhà khoa học cho rằng khó có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ.
Đạo Của Vật Lý (The Tao of Physics) là cuốn sách xuất bản lần đầu vào năm 1974 của Fritjof Carpa, một giáo sư ngành vật lý tại các đại học và viện nghiên cứu nổi tiếng ở Anh, Mỹ. Sách được dịch sang tiếng Việt, xuất bản lần đầu vào năm 2001 bởi Tiến Sĩ Nguyễn Tường Bách, một du học sinh từ trước 1975, sinh sống ở Cộng Hòa Liên Bang Đức. Ông cũng là một nhà nghiên cứu Phật học uyên bác, có nhiều tác phẩm liên quan đến Phật Giáo. Đạo Của Vật Lý đưa ra những khám phá về sự tương đồng giữa vật lý hiện đại và đạo học Phương Đông như Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, Lão Giáo… Trong sách có đoạn nói về sự thất bại của ngôn ngữ khi diễn đạt chân lý. Trong Chương Ba “Bên Kia Ngôn Ngữ” có trích hai câu nói, một của thiền sư D.T. Suzuki, một của nhà khoa học lượng tử Werner Heisenberg:
“Cái mâu thuẫn, cái làm cách tư duy thông thường bị lạc lối, xuất phát từ thực tế là, ta dùng ngôn ngữ để diễn tả nội tâm của ta, mà thể tính của kinh nghiệm đó lại vượt trên ngôn ngữ.” (Suzuki)
“Các vấn đề của ngôn ngữ ở đây là thật sự nghiêm trọng. Chúng ta muốn nói về cơ cấu của nguyên tử, nói một cách nào đó…Nhưng chúng ta không thể dùng ngôn ngữ thông thường mà nói về nguyên tử được.” (Heisenberg)
Các nhà vật lý thừa nhận rằng ngôn ngữ không những không chính xác mà còn hoàn toàn không phù hợp để mô tả thực tại của nguyên tử và thế giới hạ nguyên tử.
Nay nói đến âm nhạc, thế giới của thanh âm. Giai điệu, nhịp điệu của âm nhạc đem con người đến những thế giới diệu kỳ, làm cho đời sống thăng hoa. Nhưng âm nhạc cũng có sự yên lặng. Có bài nhạc có những dấu lặng. Những âm thanh trầm bổng có khi tăng thêm xúc cảm nhờ phối hợp với những khoảng im lặng đúng chỗ.
Có những nhạc sĩ hiện đại khám phá một thứ âm nhạc im lặng. Tiêu biểu nhất là tác phẩm gây tranh cãi 4’33” của John Cage (1912-1992). Tác phẩm này nổi tiếng vì nhạc sĩ không chơi bất kỳ nốt nhạc nào trên nhạc cụ trong suốt thời gian trình diễn. Thông điệp của tác giả có thể là âm nhạc hiện hữu ở khắp mọi nơi. "Âm nhạc" của 4'33" không phải là sự tĩnh lặng, mà là tất cả những âm thanh ngẫu nhiên vang lên trong khán phòng: tiếng gió, tiếng khán giả xì xào, tiếng ho...
Ít gây tranh cãi, dễ thưởng ngoạn hơn là trường phái âm nhạc tối giản (Minimalism music), với những âm thanh đơn giản và lặp đi lặp lại. Trên trang mạng https://www.classicfm.com/discover-music/best-pieces-minimalist-music/ có giới thiệu tác phẩm Für Alina (1976) của Arvo Pärt, một nhà soạn nhạc Estonia theo trường phái tối giản, người đã sáng tạo ra phong cách âm nhạc “tintinnabulum” (có nghĩa là “giống như tiếng chuông”). Für Alina sử dụng tối thiểu các nốt nhạc trên đàn piano để phác họa một khoảnh khắc tĩnh lặng gợi cảm:
Người nghe Für Alina có thể hình dung ra tiếng chuông; và có cảm giác giống như nghe tiếng chuông chùa. Trong khi tiếng chuông nhà thờ rộn ràng, réo gọi con chiên trở về với Chúa, thì tiếng chuông chùa tĩnh lặng, đem con người trở về với Phật Tánh có sẵn nơi tâm thức của chính minh.
Đạo Ca 7 “Qua Suối Mây Hồng” hay “Vô Ngôn” là một ca khúc trong mười bài Đạo Ca của nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư. Trong Đạo Ca 7, truyền thuyết dân gian Sơn Tinh Thủy Tinh lần đầu tiên được diễn giải như là biểu tượng sức mạnh của vô ngôn. Theo lời giải thích của Phạm Duy, Mỵ Nương tượng trưng cho ý thức sáng tạo; Sơn Tinh là sự vắng lặng của ý niệm ngôn ngữ, sau cùng là người chiến thắng trong cuộc chiến dành trái tim của Mỵ Nương, cùng người đẹp đi vào đại thể. Ca khúc này được viết với thủ pháp hết sức tượng hình, diễn tả cuộc đối đầu giữa sự hung hãn của Thủy Tinh và sự tĩnh lặng của Sơn Tinh:
…Thề quyết không một trời
Thủy Vương vùng kiếm thét…
…Nhưng trên ngọn đỉnh núi
Chẳng được ai trả lời
Thủy Vương căm giận điếng
Xua quan quân thẳng tiến…
…Sơn Vương ngồi trên núi
Cùng Mỵ Nương mỉm cười…
Mỗi khi nói về Thủy Tinh, âm thanh như cuồng nộ. Khi nhắc đến Sơn Tinh, giai điệu trở nên thanh thoát. Cuộc chiến tranh thầm lặng đó kết thúc khi:
…Thủy Vương kêu thét mãi
Núi mù khơi thêm mù
Thủy Vương hộc thêm máu
Lui quân về biển khơi…
Cuộc chiến Sơn Tinh-Thủy Tinh đã để lại cho đời một bản “siêu hùng ca”, khi “Thiên Thư không cần chữ”; và cây sáo thần không cần lỗ vẫn “vi vu trong lòng người”. Sức mạnh của vô ngôn được diễn tả tuyệt đẹp!
…Thề quyết không một trời
Thủy Vương vùng kiếm thét…
…Nhưng trên ngọn đỉnh núi
Chẳng được ai trả lời
Thủy Vương căm giận điếng
Xua quan quân thẳng tiến…
…Sơn Vương ngồi trên núi
Cùng Mỵ Nương mỉm cười…
Mỗi khi nói về Thủy Tinh, âm thanh như cuồng nộ. Khi nhắc đến Sơn Tinh, giai điệu trở nên thanh thoát. Cuộc chiến tranh thầm lặng đó kết thúc khi:
…Thủy Vương kêu thét mãi
Núi mù khơi thêm mù
Thủy Vương hộc thêm máu
Lui quân về biển khơi…
Cuộc chiến Sơn Tinh-Thủy Tinh đã để lại cho đời một bản “siêu hùng ca”, khi “Thiên Thư không cần chữ”; và cây sáo thần không cần lỗ vẫn “vi vu trong lòng người”. Sức mạnh của vô ngôn được diễn tả tuyệt đẹp!
Trong những ngày cận kề tết Nguyên Đán năm nay, Việt Báo có tổ chức ra mắt cuốn sách “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của nhà báo Phan Tấn Hải, cũng là cư sĩ Phật Giáo Nguyên Giác. Nhà báo Huỳnh Kim Quang có viết bài điểm sách đăng trên Việt Báo https://vietbao.com/p301420a324529/doc-duoi-bat-mot-mui-huong-cua-phan-tan-hai-nhu-quan-cong-an-thien. Trong truyện ngắn cùng tên sách “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”, tác giả cả đời đi tìm một mùi hương hư ảo đã theo đuổi trong tâm trí từ hơn nửa thế kỷ. Anh Huỳnh Kim Quang có trích một đoạn khi đã có thể nhìn thấy mùi hương, nhà văn Phan Tấn Hải quyết định lấy giấy bút để vẽ mùi hương đó:
“…Ngay khi cầm cọ lên, tôi mới nhận ra rằng không có gì tự có trên đời này cả. Không có mùi hương nào là tự có cả. Tôi nhớ lời Thầy Tịch Chiếu nói năm xưa, rằng khi tôi trở về sân chùa ngồi và khi trên đồi vẫn còn chim kêu và vẫn còn gió thổi ào ạt, vậy thì tiếng chim kêu và tiếng gió bạt ở đâu.
“Tôi vẽ vòng tròn Thiền Tông lên giấy. Mực tàu loang trên giấy, và tôi thấy mình hiện ra trên đó, trên nét mực đó, có khuôn mặt của tôi, có khuôn mặt của nàng, có tiếng cười của mấy tên bạn đùa nghịch sân chùa Xá Lợi, có tiếng chim kêu trên núi Bình Dương, có tiếng Thầy Đồng Nguyên nói vọng lại từ Đại Tùng Lâm, có tiếng sóng biển Vũng Tàu, và trong nét mực trước mặt tôi đã có tất cả những âm thanh của trần gian này...”
Mười BứcTranh Chăn Trâu (Thập Mục Ngưu Đồ) của Thiền Tông diễn tả tiến trình thiền tập, tu tâm qua hình ảnh của người mục đồng chăn trâu. Mục đồng là thiền giả, con trâu tượng trưng cho tâm thức. Vòng tròn Thiền Tông anh Phan Tấn Hải nhắc đến là bức tranh thứ tám, có tên là “nhân ngưu câu vong,” trâu người đều quên. Bức tranh chỉ có một vòng tròn trống rỗng. Người tu buông bỏ chấp ngã và chấp pháp, nhờ diệu dụng của trí tuệ Bát Nhã mà thấu suốt Tánh Không của vạn hữu. Đó cũng là tâm tịch lặng, rỗng suốt không ngăn ngại, giống như tấm gương trong sáng có thể phản chiếu mọi vật lên đó một cách trọn vẹn. Trong trạng thái đó, những nghĩ suy, tiếng nói thì thầm trong tâm thức sẽ đến rồi đi, chỉ còn Phật Tâm sáng rỡ hiện tiền an nhiên tự tại…
Từ ngày mở tài khoản Facebook cách đây đã 20 năm, tôi vẫn sử dụng ảnh đại diện là bức tranh chăn trâu thứ sáu “kỵ ngưu qui gia”, hay cỡi trâu về nhà. Thật là tình cờ, trong những ngày cuối năm tôi cũng quyết định đổi tấm hình này thành bức tranh thứ tám, vòng tròn Thiền Tông trống rỗng. Thời trai trẻ thích lý sự, tranh luận; khi sang Mỹ làm báo, lăng xăng với chữ nghĩa; tự nhiên cuối đời tôi lại khởi lên ước nguyện có được sự tĩnh lặng của vô ngôn.
Tôi nghe lại bản Thiền Ca Chăn Trâu Thứ Tám, suy ngẫm thêm về những dấu lặng trong âm nhạc, về sự bình an trong tĩnh lặng, về những điều không thể diễn đạt bằng chữ nghĩa, về những thông điệp có thể gởi đi để nhận được sự đồng cảm mà không cần sử dụng ngôn từ…
Doãn Hưng
Gửi ý kiến của bạn



