Hôm nay,  

Kinh Tế Lủng Củng

20/07/201000:00:00(Xem: 14838)

Kinh Tế Lủng Củng
Vũ Linh

Khi chính khách nói chuyện thì ta cần nghe rõ từng câu...

Đầu tháng Sáu vừa qua, TT Obama lên truyền hình rầm rộ quảng bá kinh tế đang trên đường phục hồi với thống kê cho thấy trong tháng Năm đã có hơn 430.000 người kiếm được việc làm. Nhưng đến cuối tháng thì thống kê cho thấy trong tháng Sáu sau đó, có 125.000 người mất việc. TT Obama không nói gì nữa, để bà Bộ trưởng Lao Động Hilda Solis viết bài cho AOL News, giải thích chuyện mất việc như là kết quả của một sự kiện bất bình thường vì 225.000 người trước đây được thuê làm nhân viên đi thu thập dữ kiện kiểm kê dân số (census) đã nghỉ việc vì xong công tác. Theo bà Solis, thì trong tháng Sáu đã có trên dưới 100.000 (225.000 trừ 125.000) công việc làm mới được tạo ra. Bà cũng cho rằng kinh tế trong nửa năm đầu của 2010, đã tạo ra 600.000 việc làm mới, đại khái 100.000 mỗi tháng.
Khi các chính khách nói chuyện thì ta cần phải nghe cho rõ từng câu.
TT Obama kể công đã tạo ra hơn bốn trăm ngàn việc làm, nhưng tuyệt đối không nói gì về chuyện trong con số đó đã có 390.000 người được thuê tạm thời để kiểm tra dân số. Nhưng khi bà Solis phân trần chuyện thất nghiệp gia tăng, thì bà nhấn mạnh đó là hậu quả của việc hoàn tất kiểm kê dân số. Nói cách khác, yếu tố kiểm kê dân số, là yếu tố then chốt trong thống kê về việc làm trong mấy tháng qua, chỉ được nhắc đến khi cần, nhưng lờ đi khi không cần.
Thống kê là những con số vô tri vô giác, hoàn toàn tùy thuộc vào cách diễn giải. Ví dụ như thống kê cho thấy hơn 80% thiên hạ chết trên giường, từ giường bệnh nhà thương đến giường ngủ ở nhà. Như vậy, ta có thể diễn giải cái giường là nơi nguy hiểm, đe dọa tính mạng ta nhất hay không"
Sự thật là các con số về việc làm liên quan đến cuộc khảo sát dân số, 10 năm lại làm một lần, thì không thể được tính vì chỉ là nhất thời, không có ảnh hưởng lâu dài gì đến công ăn việc làm hay chuyện kinh tế phục hồi hay chưa.
Bà Solis cũng không hoàn toàn ngay thẳng khi quảng cáo kinh tế đã tạo ra hơn nửa triệu việc trong sáu tháng đầu năm nay. Con số đó không sai, nhưng không là con số đáng phấn khởi. Như đã trình bày trên cột báo này, kinh tế Mỹ muốn trở về tỷ lệ thất nghiệp của cuối trào Bush, tức là 5%, phải “đẻ ra” ít nhất 400.000 việc làm mỗi tháng trong ba năm liên tục, chứ 600.000 việc trong 6 tháng thì tỷ lệ thất nghiệp 10% hiện nay sẽ tồn tại vĩnh viễn!
Mới đây, sau khi thăm dò dư luận cho thấy 60% dân Mỹ nghĩ rằng luật kích cầu chẳng mang lại lợi ích gì cho họ, Tòa Bạch Ốc vội quảng cáo rằng kế hoạch này đã tạo ra được gần ba triệu việc làm trong năm qua. Kích cầu kinh tế có hiệu ứng thực sự" Không phải vậy. Khoe tạo ra ba triệu việc làm không là nói láo, nhưng không phải là nói hết sự thật. Điều không được nói ra là đó là con số gộp, chưa khấu trừ những việc làm bị mất. Khấu trừ rồi thì chỉ còn 600.000 như bà Solis khoe. Thực tế, tỷ lệ thất nghiệp của năm ngoái là 10%, bây giờ chỉ giảm được xuống 9,5%.
Hơn 860 tỷ đôla kích cầu kinh tế chỉ làm giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 10% xuống 9,5%. Nếu tính nhẩm trên đầu ngón tay là 860 tỷ bằng 0,5%, thì muốn thất nghiệp giảm năm điểm, xuống mức 5% của cuối trào Bush, Nhà Nước cần phải tung ra 8.600 tỷ kích cầu. Đối với TT Obama có thể chỉ là bạc lẻ, nhưng nước Mỹ có gánh nổi con số này không"
Một cách nhìn khác là 860 tỷ tạo được gần ba triệu việc làm, như vậy vị chi Nhà Nước phải bỏ ra khoảng 300.000 đô để tạo ra một việc làm. Có thể nói là tất cả những người mới có việc đều chỉ có lương nhiều lắm là 50 ngàn một năm. Bỏ ra 300.000 để tạo ra một việc làm trả lương dưới 50.000" Có lợi hay không thì trẻ em tiểu học cũng trả lời được. Thay vì khổ sở tạo việc làm với mức lương 50.000, tại sao Nhà Nước không tặng thẳng 50.000 tiền mặt cho mỗi người, và như vậy, với gần 900 tỷ, sẽ giúp được 18 triệu người, thay vì ba triệu" Vừa nhiều người được hưởng lợi hơn, vừa tiện việc sổ sách.
Nhưng, tại sao kinh tế vẫn chưa khá hơn"
TT Obama dĩ nhiên đổ thừa là gia tài TT Bush để lại đã tệ hại hơn dự tính của ông quá nhiều. Và ông đề nghị… tăng thêm ngân sách kích cầu kinh tế. Gói kích cầu nguyên thủy là 780 tỷ, sau đó tăng lên 860 tỷ, bây giờ được đề nghị gia tăng thêm 270 tỷ nữa. Quốc hội đang cứu xét. Ta cũng cần nhớ lại gói kích cầu không phải là số tiền khổng lồ duy nhất mà TT Obama đã bơm vào kinh tế. Cùng lúc với gói đó, TT Obama cũng đã tung ra phụ đính ngân sách hơn 400 tỷ, và kế hoạch cải tổ y tế hơn 1.000 tỷ. Không kể gói 700 tỷ cứu nguy ngân hàng được ban hành cuối năm 2008 dưới thời TT Bush.
Nhìn vào những quyết định của TT Obama và nhóm chuyên gia của ông, thì ta thấy rõ quan điểm của họ về cách điều hành kinh tế cả nước, gọi là kinh tế vĩ mô, kinh tế đại tượng ở cấp quốc gia. Đây là quan điểm của trường phái “tân Keynesian” mà chúng ta cũng nên hiểu cho rõ hơn.
Trước Đệ Nhị Thế Chiến, tư tưởng chủ yếu trong kinh tế vĩ mô là thuyết cân bằng ngân sách (balanced budget). Theo đó, Nhà Nước cần giữ cân bằng chi thu của ngân sách quốc gia, để duy trì giá trị đồng tiền, tránh lạm phát, giá cả gia tăng quá nhanh, gây ra khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, phá sản, v.v… Ngay trước Đệ Nhị Thế Chiến, kinh tế nhiều nước Âu Châu đã bị lạm phát tàn phá, tiền phải chở cả xe mới mua được vài ổ bánh mì.
Sau Đệ Nhị Thế Chiến, xuất hiện tư tưởng được gọi là Keynesian, tức là quan điểm của kinh tế gia John Maynard Keynes của Anh thời đầu thế kỷ 20. Ông Keynes chủ trương một chính sách hoàn toàn trái ngược: chấp nhận thâm thủng ngân sách để phát triển kinh tế.


Đại cương ông Keynes chủ trương Nhà Nước phải đóng vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế và bảo đảm toàn dụng nhân lực qua việc can thiệp mạnh của Nhà Nước. Một mặt kiểm soát kinh tế bằng luật lệ chi phối mọi hoạt động kinh tế, mặt khác đóng vai trò tạo công ăn việc làm cho cả nước qua những dự án lớn. Nói nôm na ra là kinh tế được nuôi dưỡng bằng chi tiêu của Nhà Nước. Nhà Nước càng chi nhiều thì kinh tế càng phát triển. Những chi tiêu lớn lao này sẽ được tài trợ bằng thâm thủng ngân sách, mà ông Keynes cho rằng sẽ chỉ là chuyện nhất thời vì sau đó, kinh tế sẽ phát triển mạnh và với chính sách tăng thuế, số thuế thu vào sẽ gia tăng đủ để bù đắp những thâm thủng trước đó.
Thuyết này đã được cả thế giới áp dụng để gây dựng lại kinh tế toàn cầu sau những tàn phá của Đệ Nhị Thế Chiến, đặc biệt tại Âu Châu. Ta cũng nên nhớ sau Đệ Nhị Thế Chiến cũng là lúc các đảng thiên tả - nghĩa là xã hội và cộng sản - có ảnh hưởng rất mạnh tại Âu Châu. Sau đó thì lý thuyết Keynesian mất dần sự hấp dẫn, và thế giới, dưới ảnh hưởng của TT Reagan và bà Thủ Tướng Anh Thatcher, có huynh hướng trở về lại với thuyết cân bằng ngân sách và giảm thuế để khuyến khích khu vực tư tạo ra công ăn việc làm, chứ không trông cậy vào Nhà Nước để tạo việc làm nữa.
Nạn suy trầm kinh tế của những năm 1983-84, với thất nghiệp có lúc lên tới 10,7%, được TT Reagan mau mắn giải quyết với chính sách cắt giảm thuế quy mô thời đó, đưa đến một chu kỳ thịnh vượng kinh tế kéo dài tới 25 năm. Năm 2001, TT Bush lãnh gia tài suy trầm kinh tế gây ra bởi bong bóng “dot.com” xì hơi năm 2000, khiến thị trường chứng khoán rớt gần 40% cuối thời Clinton ngay trước vụ khủng bố. Vừa suy trầm vừa chiến tranh là họa vô đơn chí. Nhưng thay vì theo mô thức Obama là ngồi đổ thừa cho Clinton, TT Bush giảm thuế mạnh mẽ và kinh tế phục hồi mau chóng. Kinh tế phát triển dưới TT Bush từ cuối năm 2001 đến giữa năm 2008, với tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4%-5%.
Nhưng cũng thời gian đó tại Âu Châu, thuyết Keynesian lại được phục hồi, với vài sửa đổi để trở thành thuyết “tân Keynesian” (neo-keynesian). Dù sao, ảnh hưởng của các chủ thuyết xã hội thiên tả vẫn còn rất mạnh bên Âu Châu.
Nhìn vào thành quả đạt được qua sự phục hồi kinh tế mau chóng của Âu Châu sau Đệ Nhị Thế Chiến, không ai phủ nhận được tính thực tiễn và hữu hiệu của lý thuyết Keynesian thời đó khi mà các phương tiện sản xuất đều chưa được tận dụng. Nhưng ngày nay, cũng nhìn qua tình trạng kinh tế chung của Âu Châu, thì người ta lại thấy lý thuyết của Keynes đã sai lầm hay lỗi thời, cho dù dưới hình thức đổi mới.
Hàng loạt các nước Âu Châu đang lâm tai họa khủng hoảng kinh tế như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Pháp, Bỉ, v.v… Nguyên nhân của tai họa chính là những chi tiêu lớn lao của khu vực công, tạo ra thâm thủng ngân sách vĩ đại với những số nợ khổng lồ mà Nhà Nước không trả nổi cho dù mức thuế đã lên tới một nửa mức lương của thiên hạ. Cả khối Liên Âu bị đe dọa phá sản. Vì vậy, Liên Âu đang lo ban hành các biện pháp thắt lưng buộc bụng, cắt giảm chi tiêu Nhà Nước hàng loạt, đưa đến cắt giảm những chương trình bao cấp khổng lồ của Nhà Nước. Đó là luồng gió mới về tư tưởng kinh tế đang thổi vào Liên Âu.
Nhưng oái ăm thay, TT Obama lại là người lội ngược dòng.
Hội nghị thượng đỉnh khối 20 cường quốc kinh tế (G-20) tại Toronto vừa qua, tuy đạt được vài thành quả nhỏ mà thất bại lớn trên vấn đề đối phó với khủng khoảng kinh tế toàn cầu hiện nay. Trong khi tất cả 19 nước từ Âu Châu đến Nga, Trung Quốc và Nhật đều chủ trương thắt lưng buộc bụng để giảm chi tiêu của Nhà Nước, thì TT Obama lại đơn thân độc mã hô hào Nhà Nước tiếp tục kích cầu bằng các chương trình quốc doanh lớn lao. Nói cách khác, trong khi cả thế giới đang vật lộn với những tác hại của đường lối Keynesian thì TT Obama hô hào áp dụng chủ thuyết tân Keynesian, dùng tiền Nhà Nước để giải quyết mọi vấn đề. 
Quyết định của TT Obama khiến các chuyên gia kinh tế trên thế giới phân vân, dường như TT Obama là người của thế kỷ trước! Nhưng nó cũng phản ánh cá tính của ông. Nhất quyết dùng tiền Nhà Nước cải đổi xã hội về hướng tả, và tuyệt đối tin tưởng vào chính mình, bất chấp sự thật cả thế giới đang chứng kiến.
Chẳng những cả thế giới đang lo ngại về cuộc khủng hoảng của Âu Châu, mà còn đang run sợ trước viễn ảnh thâm thủng ngân sách và nợ hơn 10.000 tỷ của Mỹ, nhưng TT Obama vẫn bình chân như vại, tiếp tục tung hết tỷ này đến tỷ khác. Kế hoạch mới nhất là tung hai tỷ trợ cấp tạo việc làm trong khu vực năng lượng sạch (Grant for Clean Energy Jobs).
Xét cho cùng, vấn đề không phải là cần bao nhiêu trăm tỷ nữa mới giải quyết được nạn thất nghiệp và vượt qua được khủng hoảng kinh tế. Vấn đề là John Maynard Keynes đã chết từ hơn nửa thế kỷ rồi, và với sách lược kinh tế của TT Obama, có bỏ thêm bao nhiêu trăm hay ngàn tỷ nữa thì vẫn không phục hồi kinh tế và giải quyết nạn thất nghiệp được. Đó là cái nhìn của 19 nước trong khối G-20 khi họ nhất trí không đồng ý với TT Obama tung ra thêm vài gói kích cầu nữa. Chẳng qua chỉ vì ưu tư số một của TT Obama là cải đổi xã hội chứ không phải là phục hồi kinh tế và giải quyết thất nghiệp.
Tuần qua, Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang tiên đoán theo đà này, sẽ phải mất năm hay sáu năm mới phục hồi kinh tế được. Ngày Thứ Sáu cuối tuần, chỉ số tin tưởng vào tương lai kinh tế rớt xuống mức thấp nhất từ một năm nay. Thị trường chứng khoán Nữu Ước đáp ứng bằng cách rớt ngay 260 điểm trong ngày. Kinh tế đang lủng củng sẽ còn lủng củng dài dài.(18-07-10)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng mỗi Thứ Ba trên Việt Báo.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.