Hôm nay,  

Nhặt Lá Thu Phong

07/11/200400:00:00(Xem: 5370)
(Thân tặng hội ảnh PSC)
Mùa Thu đêm mưa, phố cũ hè xưa, công viên lá đổ của thi sĩ Cung Trầm Tưởng dẫn tôi thăm Paris, viếng vườn Lục Xâm Bảo để ngồi quen ghế đá ngắm nhìn mùa Thu nơi đây. Rồi nhạc sĩ họ Trịnh với cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ đưa tôi về mùa Thu Hà Nội. Các nơi chốn này chỉ là những mùa Thu trong trí tưởng của thi ca và có lẽ không đâu tuyệt diệu bằng mùa Thu Vermont.
Vermont, một tiểu bang vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, được xem là nơi chốn thể hiện mùa Thu trong mọi sắc thái, quyến rũõ hàng triệu du khách khắp nơi trên thế giới thăm viếng, thưởng lãm dấp dáng yêu kiều mùa Thu trần gian.
Xuống phi trường quốc tế Logan (Boston) mờ sương trời hừøng sáng, bốn người chúng tôi vội vã lên đường tìm nàng Thu Vermont. Đường lên thị trấn Stowe, nơi tạm trú, gần 4 giờ lái xe, bao hình ảnh mùa Thu ẩn hiệân trước mắt. Anh Vũ, người bạn trẻ trong đoàn đòi ngừng xe, muốn bắt lấy cơ hội thu nhận vài hình ảnh mùa Thu đầu tiên trên lối đi. Bác Hoa, một thành viên khác trấn an, cho rằng giáng Thu khắp nơi, cứ thong thả thưởng lãm.
Trời xế trưa, đoàn về đến khách sạn gia đình Von Trapp, ông là khởi đầu cho câu chuyện "The Sound of Music", nhiều người vẫn còn nhớ mối tơ vương giữa một bá tước góa vợ, người gốc Áo và nữ tu sắp rời bỏ tu viện vì lý do sức khỏe, bà đã giúp đỡ, dậy dỗ bầy con thơ dại của ông, rồi thành nhân duyên trong khung cảnh thế chiến thứ 2, lúc đó quân Đức đang chiếm đóng nước Áo. Hồ Ly Vọng thi vị hóa câu chuyện, giới yêu nghệ thuật điện ảnh thứ Bẩy một thời say mê.
Căn nhà chúng tôi nhìn ra cánh rừng đầy sắc Thu. Đến đây mới biết nơi chốn này là tâm điểm mùa Thu, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng hương Thu qua khung của.
Bá tước Von Trapp đã đưa gia đình lập nghiệp vùng Stowe sau chiến tranh , họ đã chọn địa điểm đẹp nhất của thành phố Stowe để xây khách sạn và nhà nghỉ mát vì nơi đây nhỏ bé, nên thơ như quê hương ông. Mỗi căn nhà tạm trú của du khách đều nằm bìa rừng riêng biệt, núi đồi trùng điệp , bao quanh những cánh rừng thu phong (maple) muôn sắc, chen lẫn rặng thông già, mầu sắc tương phản tạo cho nàng Thu thêm rực rỡ.
Huyền thoại về gia đình Von Trapp và sự thành công của "The Sound of Music" đã biến nơi này thành địa đàng trần gian của mùa Thu, điểm thăm viếng, nghỉ ngơi cho du khách một năm bốn mùa.
Tiết trời Vermont ảnh hưởng cơn bão từ Florida kéo lên, cả nước Mỹ xụt xùi với những cơn mưa không ngớt. Trời ban trưa ảm đạm, tưởng chừng chiều tàn nắng cạn, buồn lòng kẻ đi săn hình như chúng tôi.
Tiếng mưa tí tách bên thềm, giờ này chúng tôi mới thấm bỏ lõ cơ hội đầu tiên ghi nhận hình ảnh mùa Thu. Ai trong chúng tôi cũng thất vọng thời tiết bất thường. Tự an ủi mình, nếu không có tác phẩm mùa Thu, chúng tôi cũng sẽ vui vẻ thành kẻ nhàn du, đi chơi Thu. Ôi cũng là một kinh nghiệm, đừng đánh mất cơ hội trong tầm tay cho những ai thường đi săn ảnh.
Tin tức thời tiết liên tục, không mấy thuận lợi trong nhiều ngày liên tiếp, nét mặt không vui, cũng may chúng tôi có một nơi cư trú khang trang, những bữa cơm chiều đầm ấm, đậm mùi quê hương được sửa soạn bởi một người trong đoàn, bù đắp phần nào nỗi thất vọng.
Sáng hôm sau, chụp gỡ cảnh chung quanh, lúc nắng, lúc mưa, lúc nổi gió, đoàn vẫn quyết định khởi hành 6 lộ trình trong vòng 1 tuần lễ đã vạch ra. Chúng tôi lên vùng Bắc Vermont, suôi theo những con đường làng của thị xã Newport, một nơi sát biên giới Gia Nã Đại, cách thành phố Montreal (Gia Nã Đại) 3 giờ lái xe, cố tìm những suối, thác, sông, hồ, những chiếc cầu gỗ có mái che (covered bridges), một kiến trúc khá đặc biệt của Vermont.
Hình ảnh lôi cuốn trong phim "The Bridges of Madison County" của nhà văn nổi tiếng Robert J. Walter, được trình chiếu khoảng năm 1995, về mối tình bất ngờ của nhà săn ảnh (Clint Eastwood) cho tờ National Geographic, lạc lõng nơi phố lạ, ông gặp người thiếu phụ vắng chồng (Maryl Streep), mối tình ngắn ngủi xẩy ra bên chiếc cầu gỗ có mái che tại quận Madison (Iowa). Kết đoạn chia ly trong cơn mưa tầm tã như chúng tôi đang hứng chụi. Chuyện phim đánh động trí tò mò, chúng tôi đã cố tìm ra những chiếc cầu thơ mộng tương tự như trong phim.
Từ cầu này qua cầu khác, hình ảnh thực tại không trữ tình như câu chuyện. Vị trí của những chiếc cầu thường nằm trơ vơ giữa dòng đời, cảnh trí gai góc cho người săn ảnh, cộng thêm bầu trời phủ đầy mây xám, săn ảnh cũng không xong, chúng tôi mất toi thêm một ngày đường, mọi người về tay không.

Sau này mới khám phá ra hai chiếc cầu gỗ sơn đỏ đầy huyền thoại, vẫn nhìn thấy trong sách báo nằm về phía cực Tây Nam Vermont, thuộc phạm vi thành phố Arlington, sát biên giơí bang Nữu Ước. Chiếc cầu gỗ đỏ nổi tiếng nhờ nằm trong khu sinh sống của nghệ sĩ nổi tiếng Norman Rockwell thường được giới săn hình chiếu cố, chiếc kia tọa lạc không xa về phía Tây Arlington, tỉnh Sunderland. Đường xa mờ mịt, trời mưa gió, mây giăng khắp lối, chúng tôi đành bỏ lỡ thăm viếng 2 cầu này.
Qua ngày thứ ba, thời tiết thay đổi, thuậân tiện đôi chút, chúng tôi đuổi theo mặt trời, săn nắng với hy vọng điều kiệân ánh sáng cho phép đoàn có cơ hội săn ảnh mùa Thu. Quyết định không theo lịch trình đã vạch sẵn, anh em đồng ý dừng bất cứ nơi chốn nào có mùa Thu, không còn "kiên phổ phút chờ". Khi trời hết nắng, đoàn lại dong duổi đường dài hun hút, tìm chân trời mới cho cảnh Thu.
Mùa Thu nơi nơi , ở mọi góc rừng, sắc vàng, đỏ, cam pha lẫn màu xanh từng rạng thông rừng, giao hòa khắp lối đi, biến mùa Thu Vermont trở thành thiên đàng của các mùa Thu chúng tôi đã từng đi qua.
Con đường đất vắng lặng, dẫn chúng tôi đến hàng Thu phong giao nhau, con suối róc rách bên đường, mặt hồ phẳng lặng phản ánh chiều Thu đã đền bù cho đoàn có những hình ảnh tiêu biểu nhất cho mùa Thu.
Từ khi nhìn ra "chân lý" không chờ đợi, chúng tôi tìm kiếm cảnh Thu trên đường đi, lối về, từ một góc rừng, bên cạnh dòng suối êm ả chạy qua cách đồng đầy cỏ heo may, đàn gia súc thong thả ăn cỏ ngoài đồng, khung cảnh an bình ít tìm thấy nơi nào thanh bình hơn.
Chúng tôi lặng nhìn cảnh trời thiên nhiên, con tạo đã ưu đãi Vermont trở thành thiên đàng của mùa Thu. Chẳng ai bảo ai trong chúng tôi, sủa soạn đồ nghề, dựng chân 3 càng, sắp đặt máy ảnh, chọn một góc cạnh, ghi nhận cho mình những hình ảnh mùa Thu tuyệt hảo hiện ra trước mắt.
Thong dong trên hương lộ đầy lá vàng, xuyên qua làng này đến làng nọ, những nghĩa địa buồn trơ vơ bên đường. Hồn thơ Đinh Hùng như máy động tim tôi, vần thơ tuổi học trò vẫn còn in sâu trong trí nhơ:ù
Trời cuối Thu rồi - em ở đâu "
Nằm trong bên đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu
Như bừng tỉnh, chúng tôi xin anh Vũ ngừng lại giây phút để tìm kiếm một chút hương Thu trong nghĩa trang bên đường. Anh đồng ý để bác Hoa và tôi có dăm phút tìm tác phẩm. Mộ Thu tuyệt như vậy, chỉ có một thời gian thật ngắn ngủi, chúng tôi cố tìm cho mình một góc cảnh để diễn tả mùa Thu nơi nghĩa trang mang nhiều ý nghĩa.
Tôi thầm ước, nếu có nàng tiên hiện xuống nghĩa trang trong chiếc áo đen, khăn quàng đỏ vắt ngang vai, ngồi bên góc mộ, đốt nén hương thời gian như tiếc mảnh đời đã qua. Cơn gió lay động hàng Thu phong, từng chiếc lá vàng rơi trong ánh chiều tàn, chiếc máy thu hình từ đằng xa ghi lại hình ảnh toàn hảo nơi mộ Thu, sẽ để lại trong tâm khảm người săn ảnh một ấn tượng sâu đậm.
Trở laiï thực tại, tôi chọn một khung trời hẹp, nơi đó chiếc cờ lay động trước gió, hàng bia mộ im lìm dọc theo hàng Thu phong, mầu lá vừa chuyển từ xanh qua vàng trong ánh chiều ảm đạm. Chụp xong một tấm, qua ảnh thứ hai chúng tôi hết giờ, lên xe trong nỗi niềm tiếc nhớ.
Những ngày còn lại, thời tiết lại đổi thay, kinh nghiệm giúp chúng tôi thích hợp với hoàn cảnhï. Lúc làm phó nháy, lúc trở thành khách nhàn du thưởng thức hương Thu còn sót lại từ những cánh rừng đi qua. Giáng Thu rực rỡ, yêu kiều đầu tuần, thời gian trôi qua mau chóng, những cơn mưa dai dẳng đêm Thu, núi rừng phủ làn sương tuyết, hàng cây lay động, cơn gió buốt lạnh, những chiếc lá Thu bắt đầu héo úa, tả tơi ngập lối đi. Rừng Thu biết phận như cô gái đương xuân, sớm độ chiều, ngậm ngùi cam phận đón nhận mùa đông khắc nghiệt sắp đến.
Vần thơ Hoài Khanh chợt đến trong tâm tưởng trước cảnh tàn Thu:
Đã chết mùa Thu em biết chưa"
Anh không khóc nữa để mong chờ
Buồn không chở nổi bao niềm nhớ
Rung rức đâu từ vạn cổ sơ
Chuyến đi săn hình kết thúc trong cảnh tàn Thu, chúng tôi đã chọn đúng thời điểm đẹp nhất vào hai tuần đầu trong tháng mười. Tuy tổ chưa đãi như lòng người mong muốn. Tiết Thu hòa điệu bão bùng từ nơi xa sôi nào đó, một kinh nghiêm khó tiên liệu cho chuyến đi.
Mỗi người trong đoàn thu nhặt được một số tác phẩm tiêu biểu nhất về mùa Thu Vermont. Bài học kinh nghiệm quí báu học được cho người săn ảnh, cần biết tận dụng bất cứ khoang khắc nào cho phép để ghi nhận những hình ảnh có thể chỉ xẩy ra trong giây chốc, rồi biến thành thiên thu. Dù thế nào đi nữa, Thu Vermont cũng vẫn là nơi đẹp nhất trần gian, chúng tôi hẹn lòng sẽ trở lại Vermont trong mùa Thu khác.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.