Hôm nay,  

Putin! Ông Là Ai?

29/05/200500:00:00(Xem: 7393)
Từ năm 2000 sau khi ông Valadimir Putin trở thành tổng thống Liên bang Nga, thế giới trông chờ một Liên bang Nga nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng thế giới. Sau 10 năm dưới Boris Yeltsin, Liên bang Nga đã đi vào con đường đa nguyên chính trị và kinh tế thị trường. Có một số khó khăn vì sự mở cửa cho kinh tế thị trường thiếu kế hoạch tạo nên sự mất thăng bằng trong sinh hoạt kinh tế quốc gia, và người ta chờ đợi ông tổng thống trẻ tuổi Putin sẽ dần dần điều chỉnh.
Một vài chính sách của tổng thống Putin có mang lại sự lo âu như cuộc đàn áp thô bạo cuộc đấu tranh giành quyền tự trị của Chechnya, việc giới hạn tự do báo chí trong nước, việc bắt giữ nhà tài phiệt Khodorkovsky, việc can thiệp vào nội bộ của Ukraine… Tuy nhiên thế giới Tây phương vẫn hy vọng rằng đó là những điều bất đắc dĩ tổng thống Putin phải làm để bảo tồn sự toàn vẹn lãnh thổ, kiểm soát sự tự do quá trớn và thu hồi lại cho quốc gia những gì của quốc gia đã lọt vào túi riêng trong thời gian mở cửa thiếu luật lệ.
Nhưng càng chờ đợi càng thất vọng. Mấy tháng trước đây khi nghe tổng thống Putin tuyên bố: “Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết là tai họa địa lý chính trị lớn nhất của thế kỷ 20”, người ta thấy cái chóp của tảng băng độc tài bắt đầu ló dạng.
Trong tất cả những biến cố của thế kỷ 20, sự dẹp bỏ chế độ cộng sản tại Liên bang Xô viết, cất bỏ bức màn sắt, giải phóng Đông Âu là điều tốt đẹp nhất của thế kỷ. Biến cố đó khai thông con đường tự do dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới, và là một món quà lớn của thế kỷ ông Mikhail Grobachev dâng hiến cho thế giới và đất nước của ông. Thế nhưng ông Putin đã phủ nhận hành động tốt đẹp đó. Nó cho chúng ta một dữ kiện độc đáo về tư duy thiếu lành mạnh của tổng thống Putin, và từ đó một bức tranh về con người ông.
Thủ đoạn của tổng thống Putin trong việc bắt giữ và truy tố nhà tài phiệt Khodorkovsky trong tháng 10 năm 2003 càng ngày càng hiện rõ. Ông Putin đã đưa ông Khodorkovsky ra tòa về tội trốn thuế, biển thủ, hối lộ và điều khiển một tổ chức tội phạm. Tòa án đang xử ông. Ông Khodorkovsky xuất thân từ một gia đình trung lưu, có học, năng động và nhiều sáng kiến, tham gia phong trào thanh niên cộng sản thời Gorbachev, và ông đã biết nắm lấy cơ hội kinh tế thị trường trong thập niên 1990 và trở thành một nhà triệu phú, một oligarchy của Liên bang Nga thời hậu cộng sản. Ông Khodorkovsky sở hữu hãng dầu lửa Yukov là hãng dầu lớn nhất Liên bang Nga, kiểm soát một phần truyền thông và khai thác tối đa sinh hoạt dân chủ tại nghị trường để bảo vệ quyền lợi của mình. Ông trở thành cái gai của tổng thống Putin khi ông Putin nghi ông Khodorkovsky có ý định tranh cử tổng thống năm 2004. Và ông Putin đã dùng mọi quyền lực ông có trong tay để truy tố và hủy diệt ông Khodorkovsky. Công tố viện Nga đã dùng mọi đòn phép tư pháp để làm cho công ti dầu lửa trở lại nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ và ông Khodorkovsky phá sản.
Tại một tòa án nhỏ của quận Meshchansky tại Mạc Tư Khoa xử ông Khodorkovsky tuy cũng có quan tòa, có công tố, có luật sư bào chữa, nhưng hết sức buồn tẻ. Trong khi công tố đọc cáo trạng quan tòa ngồi như ngủ làm cho các quan sát viên nhớ lại cảnh các phiên tòa “cho có lệ” (show trial) thời Stalin với tổ chức mật vụ trong tay của các hung thần Nicolai Ezhov và Lavrenti Beria.
Đành rằng công tố không bịa ra tất cả tội lỗi của ông Khodorkovsky. Ông ta đã phạm một số sơ hở để cho ông Putin khai thác. Nhưng Putin thừa hiểu rằng lỗi không phải hoàn toàn do ông Khodorkovsky mà do cơ hội và những lỗ hổng của luật pháp dưới thời mở rộng cửa của Boris Yeltsin. Nếu được bảo vệ bởi luật pháp công minh thì sau khi trả giá những quá đáng của mình ông Khodorkovsky còn có nhiều khả năng đóng góp cho quốc gia và không làm cho những người Nga có khả năng cũng như các nhà đầu tư nước ngoài sợ hãi. Việc truy tố và với một bản án nặng chờ đợi ông Khodorkovsky có thể sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế nước Nga. Người Nga sẽ nhớ lại thời đại công an trị của Nga Hoàng và nhất là dưới thời đại Stalin mà dân chúng thường truyền khẩu rằng nguyên tắc cai trị nước Nga là: “hãy chỉ cho tôi bất cứ một người nào tôi sẽ viết một bản án có chữ ký của người đó”.

Một quốc gia muốn vươn lên cần nhìn lại lịch sử, ưu điểm để học, khuyết điểm để tránh và cần can đảm tháo gỡ xiềng xích tinh thần. Nam Phi đã công khai kết án chính sách apartheid, Đức với việc giết người Do Thái, Nhật với việc bạo tàn khi xâm lăng Trung quốc, và ít nhất như Trung quốc đối với các lỗi lầm của Mao Trạch Đông trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Liên bang Nga trái lại chưa một lần ghi nhận khuyết điểm của thời đại Stalin. Tháng Năm qua Liên bang Nga đã tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm thắng Đức quốc xã một cách rầm rộ tốn kém để nhắc lại công trạng của Liên bang Nga chiến thắng Đức quốc xã, một sự chiến thắng Liên bang Nga đã trả giá bằng 27 triệu quân và dân. Nhưng Liên bang Nga đã làm ngơ trước những quá đáng của Stalin.
Putin chưa làm và sẽ không bao giờ làm vì qua quá trình đào tạo Putin không phải là một người dân chủ, ông ta là một sản phẩm của độc tài. Có thể ông ta sẽ thành công làm cho Liên bang Nga được nể sợ hơn nhưng cái giá nhân dân Liên bang Nga phải trả sẽ không nhỏ.
Ông Donald Rayfield trong phần kết luận cuốn sách Stalin and his Hangmen của ông, đã viết:
“Liên bang Xô viết chưa ra khỏi cơn bệnh tâm thần vì chưa nhìn nhận lỗi lầm quá khứ. Khruchev tố cáo tội ác của Stalin cốt để củng cố quyền hành, vì bàn tay ông cũng từng nhuốm máu. Trong quan niệm của Khruchev và Brezhnev những người Trotskyists bị Stalin giết là phải. Những kẻ sống sót các trại tập trung Gulag cũng như thân nhân của những người bị tàn sát bởi Stalin chưa bao giờ được bồi thường xứng đáng ngoài một bằng ghi nhận và một tháng lương. Khi các sử gia hay các nhà văn Nga đào sâu vào các tội ác của Stalin lập tức chính quyền thắng lại và dân chúng được khuyến cáo chớ quên công lao của Lenin và một số chính sách đúng đắn của Stalin. Dưới thời đại perestroika của Gorbachev các sử gia phanh phui hồ sơ mật và phơi bài bày các mồ chôn tập thể của thời Stalin, thì cơ quan FSB (hậu thân của KGB) tìm cách ngăn cản và sau cùng cấm đoán vì lý do an ninh quốc gia.
Một điều kỳ lạ là dân chúng Nga vẫn còn tin rằng những quá đáng của Stalin là do hai bàn tay khát máu Ezov và Beria, và rằng nhiệm vụ của công an mật vụ là bảo vệ an ninh quốc gia. Truyền thông, báo chí và nền giáo dục của Liên bang Nga không hề có một nỗ lực nào để cho dân Nga biết đó không phải là sự thật. Nạn nhân của Stalin vẫn âm thầm đau khổ, trong khi những tay đồ tể được an hưởng tuổi già với trợ cấp phong phú và thỉnh thoảng mang huy chương đầy ngực vênh vang xuất hiện trước công chúng!
Vào năm 2004, Liên bang Nga đang được cai trị bởi một trong những nhân viên mật vụ đó (tên ông ta là Vladimir Putin.) Quá trình đào tạo của ông ta không khác gì Ezov và Beria. Số tù chính trị tại Liên bang Nga lúc này chỉ còn hằng trăm thay vì hằng trăm nghìn như thời đại trước và cơ quan an ninh FSB của Putin không còn phóng tay muốn làm gì thì làm do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nhưng họ vẫn liên kết với những thành phần bất hảo trong nước nắm mọi tài nguyên và quyền lợi của quốc gia, và vẫn còn khả năng bắt giết đàn áp, bỏ tù những công dân lương thiện dám chống lại họ một cách kín đáo. Với thời đại tin học và kinh tế hóa toàn cầu Validimir Putin không có thể bắt giết hay bỏ tù hằng triệu nông dân lương thiện hoặc đàn áp tầng lớp trí thức trong nước như thời đại Stalin nhưng sự đàn áp thô bạo vẫn còn tồn tại tại Liên bang Nga. Chechnya là một thí dụ. Số phận của các nhà báo chân chính và các chính trị gia đối lập khác như Galina Starovoitora, Sergei Iushenkov và Dmitri Kholodov, và sau cùng là Mikhail Khodorkovsky là những thí dụ khác.
Nhân dân Liên bang Nga quá bận tâm với cuộc sống và nghĩ rằng sống sót được sau thời đại Stalin là một phép mầu nên không còn ý chí để đòi hỏi nhà cầm quyền phải tôn trọng dân chủ cũng như nghĩ rằng có thể dùng phiếu để bầu những người tử tế vào chức vụ lãnh đạo.
Quá khứ đang được dấu kín sau các bức tường của các kho lưu trữ hồ sơ, mà các cánh cửa càng ngày càng khép kín. Các tài liệu sử cho con em học không có một dòng chữ nói về tội ác của Stalin. Làm sao chúng biết được"”
Ông Donald Rayfield kết luận: “Chừng nào dân chúng Nga chưa biết những tội lỗi quá khứ của những nhà lãnh đạo của mình, chừng nào cộng đồng thế giới chưa áp lực được Liên bang Nga phơi bày sự thật, ngày đó Liên bang Nga còn là một quốc gia bệnh hoạn, vẫn còn bị những hình ảnh quỷ quái hung bạo của Stalin và tập đoàn sát nhân của ông ta ám ảnh. Và nếu chúng được sống lại thì không phải là điều đáng ngạc nhiên.”
Trần Bình Nam
May 27, 2005
[email protected]
http://www.vnet.org/tbn
Tài liệu tham khảo:
1.“Stalin and his Hangmen” by Donald Rayfield, published by Random House, New York, 2004
2. “The Khodorkovsky case”, The Economist, May 27th, 2005

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.