Hôm nay,  

Bên Sông

26/02/200500:00:00(Xem: 7289)
LGT : DAKTO là bút hiệu của Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Chương, nguyên Trung Úy CTCT/QLVNCH cũng là Cựu Giáo Sư Anh Văn, Trung Học PBC/Phan Thiết . Ông hiện ở Honolulu - Hoa Kỳ
*
Ngày tôi rời Phan Thiết tới nay, đã gần một nửa thế kỷ, mà sao hình ảnh thành phố hiền hòa yêu dấu đó, vẫn nằm trong tâm khảm tôi, năm này qua năm khác, sâu đậm, giống như hình ảnh một nơi tôi đã sinh ra. Gần năm mươi năm trước, tôi bước chân đến Phan Thiết, như một người xa lạ, lưu lạc qua các ngả đường đất nước, để tìm cách ổn định cuộc sống. Nhưng rồi chỉ một thời gian sống ở đây, ngày tôi rời Phan Thiết, tưởng rằng tạm bợ, nhưng một năm sau, con tim tôi cho biết, Phan Thiết không phải chỉ là một không gian vay mượn, mà chính là một góc tâm tư, tồn tại lâu dài.
Ngày đó, ở tuổi chưa tới 30, tôi cảm thấy tù túng ở đô thị, ngột ngạt về cuộc sống quá lâu mài đũng quần trên ghế trường Văn Khoa và Sinh Ngữ, tôi muốn bung ra xa, để tìm một ' chân trời nới', một phần để đổi mới chuỗi ngày đèn sách đã qua, phần khác dường như tối khao khát một luồng gió tình cảm. Ngồi ở Sài Gòn, lúc tôi nghĩ mãi chưa biết đi về hướng nào và còn đang phân vân ở ngã ba đường, không biết nên chọn nghề hành chánh hay nghề nhà giáo, thì gặp một cô bạn nhỏ, học cùng trường sinh ngữ năm thứ nhất, xuất hiện sau kỳ nghỉ vào dịp Tết. Cô tả chuyện quê nhà, ước mong kỳ nghỉ dài hơn, để cô ở lại Phan Thiết lâu hơn với những người thân. Ngồi uống cà phê, trong câu lạc bộ của trường vào một ngày đầu xuân, khi một số sinh viên , còn ăn Tết nơi xa chưa kịp trở về, tôi hỏi người bạn nhỏ :
' Phan Thiết có gì lạ Mai " '
Cô bé nhìn tôi một cách ngạc nhiên, nhưng thân mật . Cô kể cho tôi những thắng cảnh của Phan Thiết, mọi thứ hấp dẫn ở nơi sinh quán của cô, trong đó không biết bao nhiêu đia danh mà tôi không nhớ nổi. Cô tả mỗi nơi một cách say mê, chốc chốc lại ngưng lời hỏi một cách tự nhiên " Anh biết không "' làm tôi như một người cũng sinh đẻ ở Phan Thiết như cô. Naò là Lầu Ông Hoàng, nào là Bãi Thương Chánh, nào là Đức Nghĩa..một vài tên tôi còn nhớ. Theo lời Mai, Phan Thiết là một vùng trời thơ mộng không giống bất cứ một nơi nào khác, một phong cảnh độc đáo của miền Trung, một kho hải sản phong phú nhát nước và nơi có những trái tim hiền hòa, nhân ái, không tỉnh nào sánh bằng. Nghe Mai nói, tôi nghĩ chắc vì cô sinh ra ở đó, nên Phan Thiết trở thành một bức tranh vẽ ra từ con tim cô, chứ không phải từ những cảnh thực trên trái đất. Nhưng dù sao, lời mô tả của Mai, làm tôi nhớ cái tên Phan Thiết từ đó và mãi mãi về sau.
Rồi định mệnh đưa đẩy, một hôm tôi nhận được lá thư Ông thầy cũ, GS Đặng Vũ Tiễn, người cùng quê với tôi từ miền Bắc, hiện đang dạy học ở Phan Thiết. Thầy là người tôi vô cùng thương mến, từ hồi bắt đầu học Ông năm Đệ Thất tại nhà Ông, tới hồi bỏ Hà Nội vào Nam, tôi vẫn thư thăm hỏi, sau khi bắt lại được liên lạc Thầy Tiễn cho biết Ông có mở một trường tư ở Phan Thiết, lúc đó dường như là Tư thục Tiến Đức, và hỏi nếu tôi có thì giờ ra chơi thăm ông bà, những người từng coi tôi như con cái ngày xưa. Nếu lời mời của Thầy , đến với tôi trước ngày tôi gặp Mai, có lẽ tôi từ chối vì lý do bận rộn, lo cuộc sống chứa ổn định. Nhưng thư Ông đến đúng lúc tôi đang nghĩ về Phan Thiết, đang mong mỏi được nhìn thấy bức ảnh , mà Thanh Mai vẽ bằng lời hôm ngồi ở câu lạc bộ trường, và đang nghĩ về cô gái quê quán Phan Thiết tên Thanh Mai. Tôi biên ngay thư phúc đáp Ông thầy cũ và nhận lời liền.
Rồi mấy tháng chót của năm học trôi qua, hàng phượng nằm trong sân trường Sinh Ngữ rực màu đỏ, rơi cánh xuống thảm cỏ dọc theo lối đi. Tôi vẫn gặp Mai trong câu lạc bộ, nói toàn chuyện Phan Thiết. Lại nhũng tên lạ hoắc tôi nghe rất thích mà chưa thấy. Mai vẫn vẽ tiếp phần còn lại của bức tranh quê hương Phan Thiết tuyệt vời. Mai vẽ cả hình ảnh của cha mẹ, người em gái duy nhất, và dĩ nhiễn kể thêm những kỷ niệm thân thương của một cô bé tên Mai, sinh ra và lớn lên tại vùng đất nàng đem trong tim, khi đi học xa nhà. Hoa phượng nở thêm, mùa hè tới. Thanh Mai từ giã trường, bạn bè, hàng cây phượng và tôi để về quê, không quên dặn tôi "Anh về thăm Phan Thiết nhé " . Hôm chót, Mai đứng lặng dưới tàn cây, nhìn những cánh phượng đỏ, mắt thật buồn. Tôi nhìn Mai, mắt nàng ướt như sắp khóc. Nàng nói rất khẽ " Anh về thăm gia đình Mai". Rồi Mai đi. Có một cánh phượng rơi trên sân cỏ. Trường Sinh Ngữ và Trường Đại Học Sư Phạm vắng hoe, nỗi buồn bay trong gió.
Mùa hè năm đó, tầng lầu khách sạn bên phía Đông chân cầu thị xã, đón một du khách phương xa tới là tôi. Theo sự chỉ dẫn của Thầy Tiễn và Mai, tôi từ đó ra phố rất gần, thăm mấy dẫy phố phía Đông, nhà Bưu Điện phía Tây và có thể thả bộ ra thăm bãi biển Thương Chánh không xa mấy. Phong cảnh mộc mạc đơn sơ nhưng đậm tình người, ai cũng vui vẻ chào hỏi nhau như họ hàng thân thiết. Tôi lang thang đi thăm khắp nơi, một lần lạc vào khu nhà thương Hải Thượng Lãn Ông, tình cờ gặp lại một người bạn cũ nầm đó, đang phục vụ tại Ty Cảnh Sát Phan Thiết. Anh cho tôi lên chiếc xe Jeep, đi loanh quanh thăm thị xã, nhìn bãi biển, nhìn ngôi trường Phan Bội Châu trên Đại Lộ Nguyễn Hoàng, với những tà áo dài trắng tha thướt dưới đường, hoặc trên xe đạp. Anh Phó Ty CS đuà "Các hoa khôi của Phan Thiết đấy". Tôi nghĩ không có hoa khôi nào là Thanh Mai cả.
Bữa cơm ngày đầu ở Phan Thiết, tôi ăn một mình trong một tiệm Tầu gần khách sạn. Ngày sau đó, tôi về nhà thầy Tiễn thăm Thầy và Cô, kể lại những kỷ niệm vui buồn của "những ngày xưa thân ái" trên đất Bắc. Thầy coi tôi như con, muốn tôi tới sống gần Thầy Cô và sau bữa ăn, mở đường cho tôi đi vào nghề dạy học.
"Thầy muốn anh nghĩ về nghề dạy học. Anh học xong Văn Khoa và Trường Sinh Ngữ, anh có nhiều cơ hội vào nghề của Thầy ".
" Thưa Thầy cơ hội ở đâu, con chưa thấy ".
" Ngay tại thành phố này " . Ông ngưng trước con mắt ngạc nhiên của tôi. Tôi chưa dám hỏi thăm về ngôi trường nhỏ của Ông, có lẽ ý ông là cho tôi một chân dạy trong Tiến Đức, nhưng dường như Ông đọc được câu hỏi trong đầu tôi, Ông tiếp : " Tiến Đức nhỏ quá không có chỗ, hoặc phải chờ năm tới coi sĩ số tăng ra sao mới tính được. Thầy nghe bên Phan Bội Châu, sĩ số năm nay tăng vọt, có nhiều chỗ dạy giờ. Anh nên nghĩ đến việc dạy giờ tạm bây giờ, rồi mai mốt tính xin vào ngạch, hoặc anh đi học lại. . Con qua hỏi xem sao ". Tôi trình bày dự định đi vào Đại Học Sư Phạm, để chính thức nhập nghề giáo, Ông coi đó là một chuyện tốt cho tương lai nhưng với mấy chứng chỉ Văn Khoa và Trường Sinh Ngữ, tôi có thể kiếm sống thoải mái ở thành phố biển, mấy năm sau có thể về Đại Học Sư Phạm không muộn. Tôi thấy lời khuyên của Ông hữu lý, bèn xin Ông một lá thư giới thiệu sang Phan Bội Châu, dính kềm tất cả mấy giấy Văn Khoa và Trường Sinh Ngữ làm " bùa hộ mạng ". Kết quả là tôi trở thành là người "Phan Thiết" sau tháng 9, khi Phan Bội Châu khai giảng sau mùa hè.
Vừa từ Phan Bội Châu về khách sạn, tôi thấy Thanh Mai đã đứng ở đó. Mai cười tươi, đôi mắt có đuôi nói thay lời. Nàng vui , nhí nhảnh kể chuyện ở nhà, những ngày chờ tin tôi đến và tỏ ra thành thạo khi cho tôi biết , Mai đã liên lạc với Thầy Tiễn, rồi tới khách sạn, chờ lúc tôi đi vắng. Tôi tự dưng muốn trêu nàng :"Anh thất bại rồi Mai ơi, PBC không nhận anh". Mặt Mai tiu nghỉu như bánh bao chiều, không nói nên lời. Mai đi cạnh tôi về phía phố chợ, trên đường về nhà nàng. Tới hiên nhà Mai mới lên tiếng :
" Có Ba Má. Em Mai ở nhà. Anh vô đi ".

Ông thân sinh Mai ra tận cửa đón tôi, còn Má Mai vẫn lụm cụm dưới bếp, chuẩn bị bữa cơm trưa cho gia đình và người khách là tôi. Trên bàn đã bày sẵn chén bát, một phần thức ăn mùi thơm phức. Em Mai là Thanh Nga, lo mang đồ ăn từ bép lên nhà trên. Rồi mọi người ngồi vào chỗ cho Mai giới thiệu tôi với ba má. Câu chuyện xoay quanh quê quán tôi ngoài Bắc, cha mẹ tôi ở Sài Gòn, việc học hành của tôi ở Văn Khoa và Trường Sinh Ngữ. Phần này Mai nói thay tôi, vì Mai biết chương trình học ở cả hai trường. . Sai đó Má Mai, tính thực tế, đi vào phần công việc và hỏi về cuộc sống của tôi ở Sài Gòn và sao mà phải lặn lội ra thăm Thầy Tiển , thăm cảnh Phan Thiết và xin dạy ở Phan Bội Châu. Ông thân sinh Mai nhập cuộc, hỏi tôi về vụ xin việv đi tới đâu, Mai buồn rầu kể là không kết quả. Tôi vội vàng cải chính với ông bà là tôi chỉ nói đuà để trêu Mai, chứ thực ra, trường PBC đã nhận tôi, bắt đầu vào tháng 9 sau đó.
Mùa hè Phan Thiết năm đó, có lẽ là thời gian đẹp nhất trong đời tôi kể từ khi khôn lớn. Ngày trước ở đất Bắc tôi chưa đủ tuổi lãng mạn, chỉ cặm cụi làm con mọt sách ở trường, ít chú ý tới mấy mái tóc dài, tóc ngắn. Bây giờ ở một vùng đất mới, có bông mai biết nói mầu xanh, tôi tự nhiên thấy đời đáng sống, đáng vui, đáng nhớ từng phuát, từng giờ. Mai có biệt tài lái xe "mobilette" lạng trên đường và dường như trước đây, đã từng đua xe với con trai thị xã, chiếm đặc danh "Mai Mobylette" . Mai đèo tôi trên chiếc xe gắn máy chạy khắp phố phường, coi mọi nơi nàng đã mô tả, ngày ngồi ở câu lạc bộ trường, và nhất là một khu thơ mộng, vắng vẻ cách xa thị xã chừng 3 cây số. Đó là một khoảng vườn cỏ lau mọc thấp trống trải cạnh một dòng sông lượn quanh những ghềnh đá tảng, mang tên Sông Cà-Ty. Nước chảy mạnh vổ vào sườn đá tung bọt trắng xóa, tuôn vào bờ cỏ và cuộn mạnh về xuôi. Cây rừng đầy bóng mát, với những loài chim lạ hót líu lo trong nắng. Tâm hồn tôi dịu êm trong gió nhẹ và bầu không gian yên tĩnh của dòng sông.
Tôi ngồi dựa một tảng đá lớn, nghe Mai kể chuyện mình, chuyện Ba Má nàng và chuyện Thanh Nga. Mai líu lo như con chim đang hót trên cành cây, miên man nói hết chuyện này sang chuyện khác rồi trở về với chuyện Phan Bội Châu sắp sửa đưa tôi vào dạy. Tới đây mặt Mai rạng rỡ khác thường, nụ cười gần như rọi sáng khuôn mặt nàng trong bóng mát và đôi mắt laiï có đuôi . Niềm vui trong lòng Mai lây sang con tim tôi, gửi từng nhịp sóng đi vào tâm não, khiến tôi thấy cuộc đời sao thơ mộng quá, khác với những ngày u ám ở Sài Gòn, chỉ biết vật lộn với xe cộ, với áo cơm và với những ưu tư phiền não, dường như bất tận. Ở đây tôi không phải nhìn thấy những thực tại gay go của cuộc sống, chỉ thấy gió thổi, chim bay, nước chảy và một con tim hòa cùng nhịp thở, giữa khung trời bao la mát rợi. Vả lại, với chỗ day đã được bảo đảm , tôi không còn phải lo gì về nợ áo cơm, về bổn phận giúp cha mẹ tôi và đàn em đang còn tuổi đi học ở Sài Gòn. Cuộc đời tự nhiên trở thành mật ngọt và hoa thơm, với những kỷ niệm đang có hôm nay và sẽ coq ngày mai.Tất cả gom lại thành một vườn hoa thơm ngát.
Nhiều ngày tôi và Mai ngồi như vậy trong nhiều tiếng đồng hồ, nghe chuyện của nhau trong gió núi, và cũng có những ngày chúng tôi không nói chuyện, chỉ nghe chim hót và sóng vổ nơi ghềnh đá thay cho lời người. Thời gian ngưng đọng ở dưới, mặt trời mỉm cười trên cao, và có hai hơi thở của nhân loại, trong một thế giới chỉ có linh hồn câm lặng mà nói rất nhiều. Con sông Cà Ty thay hai người hát bản tình ca mùa hạ, giữa những hoa nắng lung linh trên ngàn lá, va một đàn chim di ở đâu ùa đến, phụ họa giữa khung trời lãng mạn nhất của Phan Thiết. Thật là tuyệt diệu. Không có nhà cửa, không có phố xá, không có tiếng chân người. Nhưng có tiếng tim đập, tiếng xào xạc cỏ lau, và tiếng thời gian trong tưởng tượng. Không ai biết ai nói gì nhưng trong ý nghĩ, tôi mong tới tháng 9 để bắt đầu cuộc đời nhà giáo, còn Mai óc nàng chứa đựng , niềm vui một cuộc hạnh ngộ kỳ lạ của định mệnh, nhưng chắc chắn nàng đang lo cho mùa học tháng 9 khi nàng phải rời Phan Thiết vào Sài Gòn trong mùa tựu trường. Lúc đó nàng sẽ là con chim tha hương, xa tổ.
Tháng 8 năm đó, một hôm trời đất sụt sùi trong cơn mưa buồn nhất thế kỷ. Mai và tôi chở nhau trên chiếc xe mobylette của nàng đi thăm Thầy Tiễn, trước ngày Mai rời quê đi học lâi. Chúng tôi vòng quanh một vài nơi thăm những người quen trong họ hàng của Mai, cả những người làm ở vựa nước mắm của ba má Mai và không quên thăm bãi biển Thương Chánh, một buổi chiều thu ảm đạm nhất trong đời.. Mưa bay không ngớt làm ướt những mái tóc ngoài phố. Gió từ đâu rủ nhau về biển nói lời giã từ của Mai trước khi trở về đô thị. Gió tung tóc nàng rối lên như biểu lộ giông b ảo sắp tới của mối tình hai người hai ngả, dù chưa ai lên tiếng hẹn thề. Đàn chim bình thường ở đây hôm nay sao vắng bóng, chỉ còn lại hai con hải âu, dường như cũng sắp xa nhau, bay lượn trong mưa và kêu một vài tiếng giã từ. Mai buồn đứng nép vào tôi, không nói lời gì, chỉ phơi bầy đôi mắt ướt đẫm, không biết nước mưa hay nước mắt, hay cả hai. Rồi ngày hôm sau, trời chua tạnh hẳn, Mai chở tôi thăm chốn cũ, chỗ mà cách đó hai tháng, mối tình thầm lặng đã nở hoa. Bờ sông Cà-Ty. Ghềnh đá. Bãi cỏ lau. Những tàn cây. Đám chim di. Tiếng sóng. Và hai trái tim rất cô đơn, sắp vỡ. Rồi một trái tim thổn thức. Bờ vai rung. Những giọt nước mắt Mai từ từ lăn xuống má trong tiếng nấc nghẹn ngào. Chưa chia ly mà một linh hồn đã hấp hối. Tôi ngồi yên không dám lên tiếng vì không biết nói gì. Tôi cũng không đủ can đảm để hứa hẹn.
Ngày cuối cùng đ4 đến. Tôi đến thăm Mai một lần trong căn nhà cũng là tiệm nước mắm của ba má màng. Mai ngồi cạnh má, mắt đỏ hoe. Thanh Nga lo tiếp khách và làm mọi chuyện trong nhà, pha trà bưng ra đặt trên bàn, chờ ba má lên tiếng. Ba Mai dường như đi làm mới về, trên đầu còn đội chiếc nón Địa Phương Quân. Bà mẹ Mai ngồi yên, buồn lây với con gái, nhắc Thanh Nga "mời anh" uống trà ăn mứt Tuỳ Hòa. Cuối cùng ba má nói mong tôi săn sóc việc học hành cho Thanh Nga ở Phan Bội Châu, và cứ ngày nghĩ cuối tuần, thì về với ông bà coi như gia đình. Tôi không dám nhận lời và cũng chẳng biết nói gì vì Mai không dặn trước nàng đã nói gì với cha mẹ. Dù sao, tôi cũng nhìn thấy một tình thân do Mai tạo ra qua mấy tháng lui tới, và trong ánh mắt mọi người, những tình cảm sâu đậm đã gắn chặt giữa tôi và gia đình Mai, như một mạng lưới vô hình, úp lên năm con người từ hai hướng khác nhau tới đây để kết thành một tình thương, không phân biệt Nam Bắc hay tôn giáo.
Riêng tôi một năm dạy học ở Phan Thiết, đã cho tôi cuộc tình đẹp nhất trên đời, mà một nửa thế kỷ sau, không có mối tình nào thay thế nổi. Hình ảnh Phan Thiết và người Phan Thiết vẫn in sâu trong óc tôi, với phong cảnh những vùng đất một lần cho tôi được hưỏng tình yêu đầu, dù không trọn vẹn. Một nửa thế kỷ sau, vật đổi sao dòi, cuộc biển dâu làm cho Phan Thiết suy tàn theo vận nước, nhưng người Phan Thiết, ngoài những tên đã đổi sang linh hồn màu đỏ, vẫn hiền hòa, vẫn thân thương, vẫn nặng tình nghĩa như ngày tôi tới làm dân Phan Thiết. Dù cuộc xoay vần chính trị như chu kỳ của trời đất nhưng hình ảnh Lầu Ông Hoàng, Trung Học Phan Bội Châu, Đại lộ Nguyễn Hoàng, sông Mường Mán, Bãi biển thương Chánh, bờ sông Cà-Ty, nuí Tà Cú..vẫn muôn đời giữ được vẽ đẹp nên thơ của một miền quê thanh bình xứ biển. Tình người chân thật của Phan Thiết không bao giờ phai, và bao nhiêu địa danh Phan Thiết, vẫn là một bức tranh muôn màu, muôn vẽ, tạo nên một thành phố độc đáo, khó có nơi nào sánh kịp. Và độc đáo nhất không phải là những căn lầu, những cửa tiệm, những con đường trong thị xã. Đó là bờ sông Cà-Ty, nơi mà chỉ có những linh hồn biết thưởng thức thiên nhiên, biết đem tình yêu tỏa rộng ra trời đất, biết nói mà không lên tiếng, và biết nuốt tình yêu vào linh hồn mình.
Trong đời tôi, một nửa thế kỷ sau, không bao giờ tôi quên được Phan Thiết và bờ sông Cà-Ty thơ mộng của mối tình đầu.
Xóm Cồn
11-12-04
DAKTO

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
Từ tháng 11/2000 đến nay, chưa từng có một ngày nào mà con người vắng bóng ngoài quỹ đạo Trái đất. Trạm Không Gian Quốc Tế International Space Station (ISS) đã duy trì sự hiện diện liên tục suốt 25 năm, với ít nhất một phi hành gia Hoa Kỳ thường trực trên quỹ đạo thấp. Trong lịch sử bay vào vũ trụ, hiếm có thành tựu nào sánh bằng ISS: một công trình chung của Hoa Kỳ, châu Âu, Canada, Nhật Bản và Nga – biểu tượng của sự hợp tác vượt lên trên chính trị. Nhưng mọi hành trình đều có hồi kết. Năm 2030, con tàu khổng lồ này sẽ được điều khiển rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Thái Bình Dương.
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai
Con người? Nhân loại? Chúng ta đều biết những nhân vật này từ rất lâu. Họ đến từ một loài vượn đặc biệt có trí thông minh muốn vượt lên con vượn và họ trở thành con người, như nhà khoa học triết gia Charles Darwin đã lập thuyết. Hoặc họ được nặn ra từ đất sét rồi bị đuổi khỏi vườn địa đàng, đi lang thang khắp nơi tạo ra nhân loại như Thánh kinh đã ghi chép. Dù họ đến từ đâu, chúng ta đều phải ca ngợi khả năng tiến bộ không ngừng của họ. Dù họ xấu tính cách nào, hung ác ra sao, điên rồ cách mấy, chúng ta cũng phải ngưỡng mộ ý muốn cao cả của họ: Làm cho con người và đời sống tốt đẹp hơn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.