Hôm nay,  

Ca Khúc Mới: Bên Trời Tuyết Lạnh

05/08/202219:37:00(Xem: 12172)
blank
Vào một ngày bão tuyết mù mịt ở miền đông năm 2009, tôi viết bài thơ BÂY GIỜ, ghi lại một đoạn đương 10 năm gian nan vất vả ở quê người và nỗi nhớ quê hương. Bây giờ ngồi nhớ Việt Nam. Bên trời tuyết lạnh hai hàng lệ rơi.  Nhờ duyên lành, bài thơ đã trở thành ca khúc BÊN TRỜI TUYẾT LẠNH qua những nốt nhạc tài hoa của nhạc sĩ Vĩnh Điện.

Hôm ấy, một buổi chiều tháng 8 năm 2018, tôi đến dự buổi họp mặt tại nhà của nhà văn Hoàng Thị Bích Ti. Buổi họp mặt được tổ chức trong khu vườn thoáng mát phía sau nhà. Tôi ngồi cạnh nhạc sĩ Vĩnh Điện. Nhân dịp này, tôi tặng nhạc sĩ Vĩnh Điện tập thơ vừa tái bản ĐẤT CÒN THƠM MÃI MÙI HƯƠNG. Cầm tập thơ trong tay, anh nở nụ cười hiền hòa, “PCH lật cuốn sách ra, gặp trang nào tôi sẽ phổ nhạc bài thơ ở trang đó”. Tôi lật cuốn sách. Trang 32, bài thơ BÂY GIỜ, một bài lục bát 20 câu.


Vĩnh Điện nổi tiếng là người viết nhạc rất nhanh và viết được nhiều thể loại khác nhau. Và quả là danh bất hư truyền khi ngay sáng hôm sau tôi nhận được bản nhạc anh gửi qua email. Từ ca khúc này, chúng tôi tìm thấy sự đồng cảm giữa thơ và nhạc nên anh đã viết thêm hơn 10 ca khúc nữa cũng từ tập thơ ĐẤT CÒN THƠM MÃI MÙI HƯƠNG. Trong những tuần sắp tới, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu tất cả những ca khúc nói trên. Không có gì lớn lao lắm. Chỉ là một chút kỷ niệm với người nhạc sĩ tài hoa Vĩnh Điện, chút hương hoa gửi lại cho đời.
 
Phạm Cao Hoàng
Virginia, 5 tháng 8 2022.
 
Mời quí thân hữu và các bạn bấm vào đường dẫn dưới đây để nghe ca sĩ NGỌC QUY trình bày ca khúc BÊN TRỜI TUYẾT LẠNH, thơ Phạm Cao Hoàng, Vĩnh Điện phổ nhạc.

https://www.youtube.com/watch?v=EnwYBEN-iRw



Nếu có ai hỏi: “Anh tin vào triết học hiện sinh không?”, tôi sẽ trả lời: “Không, nhưng tôi đã nghe Trăng Tàn Trên Hè Phố và tin rằng con người sống trong chiến tranh, cần hát để tồn tại.” Sartre từng nói: “Existence precedes essence” – tồn tại có trước bản chất. Bolero thì nói: “Trăng tàn trên hè phố,” ai buồn hơn ai? Câu hỏi ấy, kỳ lạ thay, vạch ra, đời không có sẵn bản chất, chỉ có sẵn buồn. Trong quán rượu ở Biên Hòa năm 1972, có thể một người lính vừa hát vừa nghĩ: “Nếu tôi chết đêm nay, trăng vẫn sẽ tàn, nhưng ai sẽ nhớ rằng tôi từng tồn tại?” Đó chính là being-for-itself của Sartre — tồn tại hướng về hư vô. Còn giọng bolero là being-for-tears — tồn tại hướng về… nước mắt.
Theo Ali Watkins và Josephine de La Bruyère, viết trên The New York Times ngày 30 tháng 3 năm 2026, ba bức tranh của Renoir, Cézanne và Matisse đã bị lấy cắp trong một vụ đột nhập chớp nhoáng tại Phòng Tranh của Magnani-Rocca Foundation, một viện bảo tàng tư gần thành phố Parma, miền bắc nước Ý. Nhà chức trách Ý cho biết vụ trộm xảy ra trong đêm 22 tháng 3. Nhóm trộm đột nhập qua cửa chính của viện bảo tàng, rồi lấy đi ba tác phẩm chỉ trong vòng ba phút. Cảnh sát Carabinieri, đang điều tra vụ này, cho rằng đây là một phi vụ được tổ chức kỹ lưỡng và có chuẩn bị từ trước.
Có một lần ngồi nhâm nhi ly rượu vang Ý tại một quán nhỏ bên bờ kênh đào thơ mộng của Venice, nhìn những căn nhà cổ soi bóng nước, nhìn tài tử giai nhân dập dìu qua lại, tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ cổ điển người Ý Antonio Vivaldi. Ông sinh ra ở thành phố tình yêu này. Một xứ sở với thiên nhiên đẹp, con người đẹp, âm nhạc đẹp, thì người ta dễ yêu nhau lắm, mùa nào cũng là mùa của tình yêu! Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi chính là bản Concerto Bốn Mùa soạn cho violin và dàn nhạc. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp, vẽ phong cảnh sống động của bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, được phát họa bằng những nốt nhạc. Tổ khúc có bốn concerto; mỗi concerto có ba chương ngắn với bốn chủ đề Xuân-Hạ-Thu- Đông. Có lần một người bạn hỏi tôi làm sao để cảm nhận được rằng âm nhạc cổ điển có thể tả cảnh mà không sử dụng đến lời ca? Tôi đề nghị bạn nghe tổ khúc Bốn Mùa. Nghe nhạc cổ điển không lời cần nhiều đến trí tưởng tượng
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong những ngày phong tỏa vì Covid-19 năm 2020, tại thị trấn Zutphen, miền đông Hòa Lan, bà Charlotte Meyer vô tình mở lại một ngăn kéo cũ trong nhà – và bất ngờ đánh thức một “kho tàng” mỹ thuật đã ngủ quên gần một thế kỷ: 35 bản khắc kim nguyên bản của Rembrandt van Rijn. Tập tranh khắc này vốn do ông nội bà, một nhà sưu tầm nghiệp dư, mua dần dần trong khoảng từ 1900 đến 1920 với giá chỉ vài đồng guilder mỗi tờ, vào thời mà tranh in chưa được xem là thứ nghệ thuật đáng kể, rồi được gói ghém lại như một thứ kỷ vật gia đình và dần rơi vào quên lãng.
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn. Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế. Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc.
Ngay dịp Valentine năm nay, hãng Warner Bros. cho ra mắt bộ phim “Wuthering Heights” – phóng tác mới nhất từ tiểu thuyết “Đỉnh Gió Hú” của Emily Brontë. Phim do Emerald Fennell – nữ đạo diễn Anh từng gây tiếng vang với “Promising Young Woman” và “Saltburn” – viết kịch bản và đạo diễn, với Margot Robbie đóng vai Cathy và Jacob Elordi trong vai Heathcliff. Ngay phần giới thiệu đầu phim, Fennell chỉ ghi lời khiêm tốn “dựa theo tiểu thuyết của Emily Brontë”, và còn để nhan đề trong ngoặc kép, như muốn nói đây là một phiên bản riêng, không phải chuyển thể “theo sách”.
Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.