Hôm nay,  

Trâu Sữa Và Sữa Trâu

31/01/200900:00:00(Xem: 6705)
TRÂU SỮA và SỮA TRÂU
Nguyễn Thượng Chánh,  DVM
Nói đến sữa trâu chắc có lắm bạn ngạc nhiên vì nghe hơi lạ tai, và cũng chưa từng thấy loại sữa nầy được bán ở đâu cả.
Nói chung, sữa trâu cũng không mấy phổ biến tại Bắc Mỹ... Đừng có vào siêu thị mà tìm mua sữa trâu cho mất công, không có đâu! Nếu có bán, thì cũng chỉ thấy bán trong những tiệm chuyên bán thực phẩm thiên nhiên (health foods) mà thôi.
Tuy nói vậy, chớ tình hình sữa trâu tại Canada và Hoa Kỳ có thể còn thay đổi trong tương lai.
Hiện nay, hai quốc gia nầy cũng có một số trại chăn nuôi trâu sữa Ấn độ.
Đối với người mình cũng thế, sữa trâu vẫn còn là một mặt hàng quá xa lạ.
Chữ trâu tạo cho chúng ta hình ảnh một con vật to lớn vạm vỡ có sừng dài và cong ra sau, mình mẩy đen thủi đen thui, tối ngày cực khổ kéo cày ngoài ruộng nước hoặc trầm mình trong ao đầm lầy lội hôi hám...
Trâu, là tượng trưng cho sự bóc lột, cho sự nô lệ, cho sự lao động chết bỏ, và cho cuộc sống cơ cực lầm than, v.v...
THẾ GIỚI CÓ BAO NHIÊU TRÂU"
Trước hết, xin làm sáng tỏ về danh từ.
Trâu tiếng Anh gọi là water buffalo, hay là trâu nước tức là các loài trâu mà chúng ta từng thấy ở bên nhà.
Tại Bắc Mỹ, danh từ buffalo còn được dùng để chỉ một loại bò rừng thường sống từng đàn ở vài vùng của Hoa Kỳ và Canada. Tiếng Pháp gọi loại bò rừng nầy là bison.
Danh từ "Trâu nước" đôi khi cũng được sử dụng để chỉ một loài thú rừng bên Phi Châu. Con vật nầy to lớn hơn con bò, miệng rộng, dài và không có sừng. Tối ngày trầm mình dưới nước chỉ ló cái đầu ở trên mặt nước mà thôi. Đây là con hà mã hippopotamus.
Theo thống kê của Tổ chức Lương Nông Quốc Tế FAO, không kể trâu rừng thì thế giới hiện có có không dưới 158 triệu con trâu. Trong số nầy, 153 triệu (97%) là trâu nước (water buffalo) tức là loại trâu thích trầm mình dưới nước, còn gọi là trâu đầm lầy (swamp buffalo, buffle de marais). 
Loại trâu nầy to con và rất mạnh, nhưng chịu nắng rất dở. Thân trâu có màu đen, hay nâu xậm, và hi hữu hơn còn có màu trắng nữa. Sừng dài, hơi cong và rất rộng, móng rất to.
Trâu đầm lầy được sử dụng làm con vật kéo tại các đồng ruộng ở Đông nam Á, Nam Trung, Indonesia, và tại Philippines người ta gọi chúng là Carabao hay Kerabau.
Chúng thường chuộng nơi ẩm thấp, thích vùi mình dưới các vũng bùn cho được mát, và cũng để tránh bớt việc bị ruồi mồng hút máu. Trâu đầm lầy cho rất ít sữa.
Bên cạnh loại trâu đầm lầy còn có trâu sông (riverine buffalo, buffle de rivière).
Loại trâu nầy thích ưa chuộng các đồng cỏ khô ráo, và chúng thường hay ngâm mình cả ngày trong làn nước trong của sông rạch.
Có lối 70% trâu sông trên thế giới được tập trung tại vùng Đông Nam Á mà đặc biệt là Ấn Độ và Pakistan...
Các giống trâu sữa đều được tuyển chọn từ trâu sông.
CÁC GIỐNG TRÂU SỮA NỒI TIẾNG
Thật ra, bất kỳ loại trâu nào sau khi đẻ cũng đều cho sữa để cho các nghé con bú.
Trâu sữa thật sự là những giống trâu đã được tuyển lựa đặc biệt, và có khả năng cho sữa cao trong một thời gian (lactation period) lâu dài.
Trâu sữa thật sự đều xuất phát từ trâu sông và có nguồn gốc Ấn Độ và Pakistan.
Loại trâu sữa cần phải được chăm sóc kỹ lưỡng, và nuôi dưỡng đặc biệt để có năng suất sữa cao.
Các giống trâu sữa nổi tiếng nhất là: Murrah, Nili-Ravi, Surti, Mehsana và Jafavabadi.
Chúng có năng suất sữa từ 4 đến 7kg sữa/ngày. Mỗi kỳ cho sữa trung bình là 285 ngày với một sản lượng sữa từ 1800-4500kg so với 360-500kg sữa của các giống bò địa phương tại Ấn Độ.
Trâu sữa Ấn Độ có bản chất rất hiền hòa.
Cũng như ở bò sữa, tỉ lệ chất béo, protein, và tổng số chất khô của sữa trâu giảm đi vì có sự gia tăng của năng suất sữa.
Các trâu đầm lầy ở Đông Nam Á có năng suất sữa kém. Chúng thường được sử dụng làm con vật để kéo, cho nên tiềm năng cho sữa của chúng không được quan tâm đến một cách đúng mức.
Tại Philippines, trâu đầm lầy nuôi nghé có thể cho từ 300kg đến 800kg sữa cho mỗi kỳ sữa trong khoảng 130 - 300 ngày.
Trâu đầm lầy Thái Lan nếu nuôi dưỡng đặc biệt để lấy sữa có thể cho từ 3-5kg sữa/ngày trong thời kỳ sữa lối 300 ngày tức là khoảng 900 -1500kg sữa/kỳ sữa.
Trâu sữa còn thấy được nuôi tại các quốc gia Đông Âu (Bulgaria, Roumania, Yougoslavia, Nga), Italy, Iraq,Turkey, Đức Quốc, Anh Quốc (vùng Bedforshire), Hoa Kỳ (Texas, Florida,Vermont) và Canada (British Columbia).
Năm 1977-1978, Hoa Kỳ nhập trâu đầm lầy từ đảo Guam, tiếp theo là năm 1981 họ cho nhập thêm 103 trâu sông từ Trinidad, và sau đó thì Hoa Kỳ cũng thỉnh thoảng nhập thêm trâu sữa.
Ngày nay, ngành chăn nuôi trâu tại Hoa kỳ được tập trung nhiều nhất tại Texas, Arkansas và Florida... Các tiểu bang khác cũng có nuôi trâu nhưng số lượng không mấy quan trọng. Số liệu năm 1997 cho biết, Hoa Kỳ có lối 3500 con trâu và được phân phối trong 20-30 đàn... Chăn nuôi trâu tại Hoa kỳ nhằm mục đích để lấy sữa, và làm fromage chẳng hạn như fromage Morazella rất nổi tiếng.

Trở về Việt Nam, vào năm 68-69 tức là tròn 40 năm về trước, khi tác giả vừa mới ra trường, và có được job dạy học tại trường Cao Đẳng Nông Nghiệp thuộc Viện Đại Học Cần thơ do Gs Phạm Hoàng Hộ sáng lập và làm Viện trưởng.
Trại Thực Nghiệm Chăn Nuôi Tân Sơn Nhất thuộc Bộ Canh Nông VNCH đã có hảo ý tặng cho Viện Đại Học Cần thơ hai con trâu sữa Murrah gốc Ấn Độ để dùng cho sinh viên chăn nuôi thú y thực tập. Có lẽ vào thời đó, đây là hai con trâu sữa gốc Ấn Độ đầu tiên có mặt tại vùng Hậu Giang.
SỮA TRÂU TRÊN THẾ GIỚI
Nói chung, sữa bò dẫn đầu với 86% sản lượng sữa trên thế giới, tiếp theo là sữa trâu chiếm 5%, phần còn lại là sữa dê cừu và sữa lạc đà, v.v....
Tại Ấn Độ, 60% sữa tiêu thụ là sữa trâu.
Tuy giá của sữa trâu đắt hơn giá của sữa bò, nhưng sữa trâu vẫn được người dân Ấn Độ ưa chuộng vì nó có rất nhiều chất béo, có tỉ lệ chất khô (solids) cao, và có hương vị thật đậm đà, uống tới đâu ngon tới đó.
Tại Ai Cập, vì nhu cầu về sữa trâu quá cao trên thị trường, nên đã thôi thúc các nhà chăn nuôi ham lợi nhuận đem bán hầu hết phần lớn sữa trâu cái có thể sản xuất ra được.
Tệ nạn nầy đã đưa đến tình trạng suy dinh dưỡng ở nghé con và hậu quả là tử suất cao.
Tại Bắc Mỹ, sữa trâu và fromage vẫn còn là những mặt hàng ít được biết đến.
SO SÁNH SỮA TRÂU VÀ SỮA BÒ
Sữa trâu có vẻ sệt hơn sữa bò, vì có chứa tới 16% chất khô trong khi sữa bò chỉ có 12%-14% chất khô.
Sữa trâu chứa trên 7% chất béo tức là 50-60% nhiều hơn so với sữa bò.
Riêng phần mỡ sữa (butterfat) của sữa trâu là 6,4% trong khi sữa bò chỉ có từ 3% đến 4,5% mà thôi.
Sữa trâu chứa ít cholesterol (0,65mg/g) nghĩa là ít hơn sữa bò có tới 3,14mg/g cholesterol.
Sữa trâu chứa nhiều protein, casein, albumin, globulin hơn sữa bò.
Hiệu năng protein (PER, Protein efficiency ratio) của sữa trâu là 2,74 trong khi sữa bò là 2,49.
Tỉ lệ protein trong sữa trâu cao hơn sữa bò đến 11,42%.
Chất khoáng của sữa trâu hơi giống với sữa bò, ngoại trừ phosphorus của sữa trâu cao gấp hai lần sữa bò.
Sữa trâu thiếu sắc tố caroten còn gọi là tiền vitamin A, cho nên sữa trâu có màu trắng hơn sữa bò thường có màu hơi vàng vàng.
Tuy chứa ít caroten nhưng sữa trâu vẫn có một tỉ lệ vitamin A khá cao không thua gì sữa bò. Lý do là ở trâu, tất cả caroten của thực vật ăn vào đều được chuyển hết ra thành vitamin A để đưa vào sữa.
Sữa trâu và sữa bò rất tương tợ nhau về mặt vitamin B complex và vitamin C, nhưng sữa trâu có khuynh hướng chứa ít riboflavin hơn sữa bò.
Sữa bò có crème màu vàng lợt và mỡ vàng sậm, sữa trâu thì trắng hơn sữa bò một cách thật rõ rệt.
Qua cách hấp khữ trùng ở nhiệt độ cực cao UHT (ultra hight temperature), sữa trâu và phần crème vẫn trắng, sữa lại có vẻ sệt hơn nhờ vào số lượng lớn Ca và Phoshorus được chuyển hóa ra thành dạng keo (colloidal form).
Sữa trâu rất thích hợp để làm chất trắng (whitener), dùng pha vào trà hay cà phê.
KẾT LUẬN
Sản lượng sữa trâu trên thế giới được ước lượng vào khoảng 80 triệu tấn.
Ấn Độ và Pakistan dẫn đầu với trên 70 triệu tấn sữa trâu đã được sản xuất năm 2005, tương đương 90% sản lượng sữa trâu trên thế giới.
Ngày nay, sữa trâu bắt đầu được nhiều quốc gia chú ý đến.
Tiềm năng của trâu sữa quả thật rất lớn. Các nhà chuyên môn trong lãnh vực thuốc thiên nhiên (naturopathie) đã hết lời ca ngợi sữa trâu như một loại thức uống mang nhiều tính năng phòng trị được nhiều bệnh tật như: bệnh hen suyễn (asthme), bệnh tiêu chảy do trực tràng bị kích thích (colon irritable), bệnh dị ứng, các bệnh ngoài da như bệnh eczema, bệnh vẩy nến (psoriasis), v.v...
Nhưng chúng ta nên thận trọng, vì có lẽ đây chỉ là…những lời quảng cáo mà thôi!
Chỉ có một điều chắc chắn là: sữa trâu là một nguồn protein vô cùng quý báu cho những dân tộc tại những quốc gia đang phát triển.
Vì thế, con trâu cần phải được chúng ta biết ơn nhiều hơn nữa./.
Tham khảo:
- Indian Dairy Industry. Buffalo milk vs Cow milk
http://www.indiadairy.com/info_buffalo_milk_vs.html#top
- Indian Dairy Industry. The water buffalo: New prospects for an underutilized animal
http://nzdl.sadl.uleth.ca/cgi-bin/library"e=d-00000-00---off-0garish--00-0--0-10-0---0---0prompt-10---4-------0-1l--11-en-50---20-about---00-0-1-00-0-0-11-1-0utfZz-8-00&a=d&c=garish&cl=CL2.1&d=HASH01d242dc3e08e1fdcf7343bb.5
- Buffalo milk from Britain
http://www.buffalomilk.co.uk/id20.htm
- Buffalo population and production in USA
http://ww2.netnitco.net/users/djligda/wbusa.htm
Montreal, Janv 26, 2009

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.