Hôm nay,  

Miến Điện “Thoát Trung”

17/11/201400:00:00(Xem: 7351)

...Liên Xô có Gorbachev và Yeltsin, Miến Điện có Thein Sein và Suu Kyi, Việt Nam có ai...

Tuần qua, TT Obama sau khi tham dư hội Nghị Thượng Đỉnh APEC tại TC xong đã bay qua Miến Điện, tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN tại thủ đô Miến Nay Pyi Taw, sau đó đi Yangon gặp sinh viên, bà Aung San Suu Kyi và đại diện vài tổ chức đối lập. Trước khi đi Úc tham dự Hội Nghị G-20.

Bỏ qua chuyện mấy vị quốc trưởng mang tiền thuế của dân è cổ ra đóng đi họp hết thượng đỉnh này đến thượng đỉnh nọ, chung quy vẫn những bộ mặt đó, gặp đi gặp lại, có khác là khác bộ quần áo, nay áo dài khăn đóng Việt, mai áo Mao, mốt quấn xà-ròng. Dù sao thì những vị đó gặp nhau, bắt tay mà mặt không cười như Obama-Putin hay Tập Cận Bình-Shinzo Abe, vẫn còn hơn các vị đó bán cái, xúi dại đàn em giết nhau.

Đây là lần thứ nhì TT Obama đến Miến Điện, một chuyện lạ đáng nói khi mối giao hảo Mỹ-Miến không có vẻ cơm lành canh ngọt gì từ mấy chục năm qua. Phải nói TT Obama theo Tin Lành, không phải Phật tử mê chùa Miến Điện nên muốn đi hoài. TT Obama cũng không phải là thành phần cấp tiến quá khích chuyên đi lòng vòng xách động thế giới về nhân quyền, chống độc tài. TT Obama sẽ nói về nhân quyền và cởi mở chế độ với các vị lãnh đạo và đối lập Miến, nhưng đó không phải là trọng điểm của hai cuộc viếng thăm.

Sự thật là Mỹ đang cố gắng lôi kéo Miến ra khỏi vòng tay Chú Ba họ Tập. Nhân quyền luôn luôn chỉ là cái cớ, khi nào cần mang ra làm bình phong thì lôi ra, khi nào không cần thì cất đi. Mỹ mang chuyện nhân quyền ra hù dọa Miến, nhưng lại vui vẻ ôm Tập Cận Bình hay Nguyễn Tấn Dũng trong khi TC và VN “thoải mái” chà đạp nhân quyền.

Nhân đây, ta nhìn thêm về cái xứ thần bí này.

Miến Điện quả là xứ bí hiểm. Chỉ vì một lý do khá giản dị là cái xứ này đóng cửa không chơi với ai, mà cũng chẳng ai chơi với, từ xấp xỉ một nửa thế kỷ rồi, nên mọi chuyện đều không có gì sáng tỏ, chẳng ai biết rõ chuyện gì về xứ này ngoài chuyện nổi tếng là xứ của chùa chiền và xứ của độc tài quân phiệt cảnh sát trị.

Ngay cả cái chuyện này nghe cũng lủng củng. Người ta thường nghĩ nếu là đất Phật thì chắc phải êm ả hiền lành, nhưng sao lại cũng độc tài sắt máu.

Trước hết nói về đất Phật. Quả Miến Điện là đất Phật. Trên thế giới này, có một ít quốc gia rất sùng đạo Phật, Miến Điện nằm trong khối này, ngang với Nepal, Bhutan, Tây Tạng, Tích Lan, hơn cả Thái Lan và Lào. Ở đây, cứ vài ba con đường là lại có một ngôi chùa, lớn nhỏ, đủ loại. Thành phố lớn nào cũng có vài ngôi chùa thật lớn, rất nổi tiếng.

Như Yangon có ngôi chùa nổi danh Shwedagon, là ngôi chùa bọc bởi sáu tấn vàng và ngôi chùa Chauk Htet Gyl là ngôi chùa có tượng Đức Phật nằm, dài 70 thước. Tại Mandalay, có ngôi chùa lớn, với bức tượng Phật cao hơn 5 thước, bịt kín bởi những miếng vàng lá mỏng mà Phật tử dán lên tượng. Và chùa Maha rất đặc biệt với 729 cái tháp nhỏ cao chừng 2 thước, trong mỗi tháp có một phiến đá cao chừng một thước khắc một bài kinh Phật. Nói chung, chùa Miến giống chùa Thái chứ không giống chùa Tầu. Phật giáo Miến cũng là Phật giáo tiểu thừa.

Đây là những ngôi chùa trứ danh, rất đẹp và rất đặc biệt đã thu hút cả triệu du khách mỗi năm. Đặc biệt là chùa Shwedagon (http://en.wikipedia.org/wiki/Shwedagon_Pagoda). Tọa lạc trên nguyên một ngọn đồi, có 4 lối vào từ bốn hướng, phải leo cả mấy trăm bực thang mới lên tới (cổng chính có thang máy), ở giữa là một cái tháp trát vàng cao 105 thước, chung quanh là cả trăm cái chùa nhỏ, và tháp nhỏ trông giống như mấy cái am miễu của VN ta, nhưng lớn hơn, trạm trổ rất công phu, mỹ thuật, phần lớn cũng trát vàng hay bạc. Tương truyền được xây cách đây 2.600 năm bởi hai doanh nhân sau khi họ đi gặp đích thân Đức Phật về. Thực tế có lẽ được xây thế kỷ thứ 10. Chùa bị tàn phá nhiều lần bởi chiến tranh và động đất, sau mỗi lần lại được sửa chữa, trùng tu liên tục.

Ngoài ra, Miến Điện có hai vùng nữa, thường là tâm điểm của các Phật tử đến viếng xứ này. Thứ nhất là vùng Bagan, là nơi trước đây, các vua Miến đã bỏ cả mấy trăm năm ra xây khoảng 10.000 ngôi chùa, lớn nhỏ, đủ cỡ. Phần lớn các chùa này đã bị thời gian và chiến tranh tàn phá, bây giờ chỉ còn gạch vụn. Nhưng cũng vẫn thu hút du khách khi họ đứng trên đồi cao nhìn xuống cả ngàn ngôi chùa rải rác xa hơn tầm nhìn của mình.

Thứ nhì là gần thành phố Taunggy, có một hang động rất lớn và rất đặc biệt, trong đó có gần 10.000 tượng Phật, đủ kiểu, đủ loại, đủ cỡ, do Phật tử trên khắp thế giới cúng dường, được đặt ngổn ngang trên vách đá của động. Đại khái thì quý độc giả có thể đặt đúc một bức tượng Phật, cỡ nào cũng được, từ vài chục phân đến vài thước, bằng vàng, gỗ, đất, hay đá, rồi gửi đến đặt trong động, với bảng tên của mình.

Ngoài chùa ra thì trên đường phố, sư sãi lúc nào cũng thấy đi tới đi lui. Nhất là sáng sớm, khoảng 7-8 giờ là thấy hàng đoàn cả trăm chú tiểu bưng bình bát đi khất thực, xin tiền mặt hay đồ ăn cho nguyên ngày. Chỉ có chú tiểu thôi, trong khi các vị sư lớn tuổi không bưng bình bát đi đường. Sáng nào cũng đi khất thực, và dân chúng lúc nào cũng nhiệt tình kính cẩn cúng dường.

Trong các quán và tiệm ăn bình dân, không là chuyện lạ gì khi thấy có mấy vị sư tụ họp ngồi uống trà đá, thay vì thấy mấy anh thanh niên tụ năm tụ bẩy “một, hai, ba, dzô!” như ở VN. Trong xe hơi, gần như xe nào cũng có một tượng Phật nhỏ để sau kính trước. Tiệm buôn nào cũng có bàn thờ Phật.

Dân Miến rất sùng đạo. Có lẽ vì vậy, phần lớn cũng rất hiền lành, lễ phép và lương thiện. Suốt ngày cúi rạp người xuống chào hỏi, cám ơn hay xin lỗi đủ chuyện, khác với VN ta, nơi mà tiếng xin lỗi gần như đã biến khỏi tự điển. Ở Miến, không bao giờ có chuyện bị lừa gạt tiền hay cướp giựt. Đây là xứ an toàn nhất cho du khách.

Xứ Miến còn rất chậm tiến về phương diện tài chánh, phần lớn chi tiêu bằng tiền mặt, không xài thẻ tín dụng hay chi phiếu ngân hàng, một loại kinh tế tiền mặt. Mà tờ tiền giấy lớn nhất chỉ có mệnh giá tương đương với 10 đô, thành ra người ta có thể thấy mấy ông bà kinh doanh mang từng bao bố tiền đi xe taxi, mà không bao giờ có chuyện bị taxi cướp. Du khách có để quên tiền hay đồ đạc trên taxi, cũng không sợ gì, tài xế sẽ mang trả lại tại khách sạn hay tại sở cảnh sát. Trong chợ, các bà bán hàng để cả xấp tiền thu nhập ngay trên sạp bên cạnh, chẳng bao giờ sợ bị cướp giựt.

Tài nguyên chính của Miến là đá quý, đặc biệt là cẩm thạch và hồng ngọc. Các bà có thể vào chợ hay các tiệm, mua vòng cẩm thạch với giá từ 10 đô đến 30.000 đô. Có những tiệm đặc biệt bán vòng cẩm thạch tới bạc triệu đô. Có điều du khách từ Mỹ qua nên lưu ý vì Mỹ “trừng phạt” kinh tế Miến, cấm không cho mang đá quý từ Miến vào. Hải quan Mỹ sẽ tịch thu và phạt nặng.

Thành phố lớn nhất, Yangon, có điểm đặc biệt là tuyệt đối cấm xe gắn máy, nên toàn xe hơi, xe nào cũng nhỏ xíu, giống như bên Âu Châu. Nhưng hầu hết đều là xe cũ, phế thải từ Nhật hay Hàn qua. Không có cảnh lưu thông loạn xà ngầu, vô trật tự, với xe tải, xe hơi, xe buýt, xe gắn máy như VN. Dân Miến rất kiên nhẫn ngồi chờ đèn xanh, không có vượt đèn đỏ ào ào như tại xứ “đỉnh cao trí tuệ”.

Bây giờ ta bàn đến chuyện chính trị.

Miến có 3 thủ đô, tương tự như VN. Cố đô Mandalay, thủ đô thương mại Yangon, và thủ đô chính trị Nay Pyi Taw, được thành lập 1997.

Miến bị Anh đô hộ hơn 60 năm. Anh bị Nhật hất cẳng thời Thế Chiến II. Sau khi Nhật thua, Miến được độc lập năm 1948. Đây là vùng đất chiến lược, là chiến trường lớn thời Đệ Nhị Thế Chiến, cửa sau để đồng minh xâm nhập vào Trùng Khánh, giúp các lực lượng kháng Nhật của liên minh Tưởng - Mao. Hơn 150.000 lính Nhật cùng với hơn 250.000 dân Miến bị chết trong cuộc chiến.

Năm 1962, tướng Ne Win đảo chánh, thiết lập một chế độ quân phiệt độc tài sắt đá thiên tả nặng. Miến bị cô lập hoàn toàn. Thế giới, do Mỹ và Âu Châu cầm đầu, áp đặt những biện pháp cô lập kinh tế để ép các tướng lãnh cởi mở, nhưng không mấy hiệu quả.

Vì bị Tây Phương cô lập nên các tướng quay qua tựa lưng vào TC, được vồn vã tiếp đón. Miến nối liền với TC như cuống rốn. TC trợ giúp kinh tế, quân sự, xây xa lộ, hải cảng, đường rầy xe lửa, tiếp trợ thực phẩm, dầu xăng, hàng tiêu dùng, chuyên viên kỹ thuật... Tất cả đều từ những tính toán chiến lược có lợi cho TC, mở cánh cửa cho TC vào vùng biển Bengal phiá đông Ấn Độ, bao bọc bởi Ấn, Bangladesh, Miến và Thái.

Năm 2011 tướng hồi hưu Thein Sein đắc cử tổng thống trong một cuộc bầu cử sắp đặt kiểu các xứ độc tài. TT Thein Sein này được ví như Gorbachev. Ông Gorbachev là đảng viên CS trung kiên, leo thang từ trong, lên đến tột đỉnh quyền hành thì thay đổi chính sách 180 độ, “đổi mới” và “cởi mở”, đưa đến sự xụp đổ hoàn toàn của chế độ CS tại Liên Xô.

Tướng Thein Sein cũng xuất thân từ hàng ngũ các tướng lãnh độc đoán, làm thủ tướng khi ra tranh cử tổng thống. Nhưng khi lên đến tổng thống thì ông đảo lộn chính sách, chủ trương cởi mở, bình thường hoá. Ở đây, ta nên dùng danh từ “bình thường hoá” để nói về chuyện chấm dứt chế độ độc đoán, chứ chưa thể nói đến “dân chủ hoá” được.

Sang năm tới, tháng Chín 2015, Miến sẽ tổ chức bầu tổng thống. Đây là cái nhức răng lớn cho Miến. Bà Aung San Suu Kyi là người được thế giới ngưỡng mộ và toàn thể dân Miến tôn thờ. Bà ra tranh cử thì coi như khỏi cần tổ chức bầu bán gì cho mệt.

Nhưng theo Hiến Pháp hiện hành, bà không ra tranh cử được, vì có quan hệ ruột thịt với công dân goại quốc là hai cậu con trai của bà, đều có quốc tịch Anh. Hiến Pháp này do nhóm quân phiệt viết ra năm 2008 để ngăn cản không cho bà Suu Kyi ra tranh cử.

Ngược dòng thời gian, bà Aung San Suu Kyi, sanh năm 1945, là con gái tướng Aung San. Ông tướng này lãnh đạo cuộc đấu tranh dành độc lập cho Miến Điện khỏi tay Anh, rồi tham chiến bên đồng minh chống Nhật, nhưng bị thành phần quá khích ám sát chết năm 1947, khi ông mới 37 tuổi, gần một năm trước khi Miến dành được độc lập. Ông trở thành người hùng lớn của Miến, như một Washington của Mỹ. Tên của ông tràn ngập cả nước, đường phố, công viên, công thự, sân vận động, trường học,... vô số mang tên ông.

Sau khi ông chết, bà Suu Kyi khi đó 2 tuổi, qua Anh sống, lớn lên, lấy chồng bác sĩ người Anh, sanh ra hai cậu con trai. Năm 1988, nhân dịp bà mẹ bị đau nặng, sắp qua đời, bà Suu Kyi về nước thăm, và bị sốc nặng khi thấy quân đội và cảnh sát đàn áp dã man sinh viên đang biểu tình đòi tự do dân chủ. Bà quyết định ở lại, tích cực tham gia vào phong trào đấu tranh. Đảng Liên Minh Quốc Gia Cho Dân Chủ (National League For Democracy) ôm chầm lấy bà, con gái của người hùng Aung San.

Năm 1990, bà Aung San Suu Kyi và đảng của bà đại thắng trong cuộc bầu cử, nhưng bị các tướng lãnh hủy kết quả bầu cử, bà Suu Kyi bị bắt.

Các tướng lãnh gãi đầu bứt tai không biết phải đối phó ra sao. Hầu hết họ là đàn em của tướng Aung San là người thành lập ra quân đội Miến, mà ông tướng này cũng được dân tôn thờ như thần thánh, nên các tướng không dám đụng đến bà Suu Kyi. Đành biệt giam tại gia. Tìm đủ cách khuyến khích, dụ dỗ, hăm doạ để bà về lại Anh, nhưng bị cự tuyệt. Cho đến khi TT Thein Sein chủ trương cởi mở, trả tự do cho bà năm 2011, và ngay sau đó bà được bầu làm dân biểu.

Hiện nay, Miến đang bị áp lực sửa đổi Hiến Pháp, cho phép bà Suu Kyi ra tranh cử tổng thống. Nhưng không dễ. Vì bà quá chắc ăn, nên khối quân đội với một phần tư quốc hội, và khối các đảng khác, không dễ gì chịu sửa Hiến Pháp, cho bà ra tranh cử để họ bảo đảm bị thua. Với áp lực từ trong nước ra đến ngoài nước, khó có thể cưỡng lại chuyện thay đổi Hiến Pháp.

Đây sẽ là một cuộc chiến mới trong năm tới. Một trong những lý do TT Obama đến Miến hai lần, chính là muốn tạo áp lực về chuyện này.

Câu hỏi là bà Suu Kyi làm tổng thống có phải là giải pháp tối ưu cho Miến Điện không? Câu trả lời là... chưa chắc.

Bà Suu Kyi là người có ý chí sắt đá, hết sức can đảm đương đầu với các tướng lãnh. Chấp nhận hy sinh cá nhân bị nhốt 20 năm để tranh đấu đến cùng. Khi ông chồng người Anh bị đau nặng sắp chết, các tướng lãnh cố thuyết phục bà về Anh chăm sóc. Bà hiểu là ra đi sẽ không có ngày về, nên nhất quyết không đi. Chỉ ngày ngày đến tòa đại sứ Anh để nói chuyện điện thoại với chồng trong nhà thương. Các tướng cho phép bà làm vậy để hy vọng bà ra đi, nhưng ông chồng lại luôn khuyến khích bà giữ vững lập trường (có cuốn phim rất hay kể lại cuộc đời bà, “The Lady” do Michelle Yeoh đóng; quý độc giả muốn biết thêm, nên xem).

Điều đáng bàn là bà Suu Kyi không phải là một chính trị gia có tài kinh bang tế thế. Bà là một bà nội trợ có quyết tâm. Nhưng như vậy dĩ nhiên chưa đủ để có thể lãnh đạo cả nước.

Vấn đề này đã nổi bật trong hai năm qua, thời gian bà làm dân biểu. Người ta thấy rõ ràng vai trò rất lu mờ của bà trong tư thế dân biểu. Không đưa ra luật nào, không tích cực “đấu tranh chính trị” trong hậu trường quốc hội, không lên tiếng trước những biến cố trọng đại, như những vụ xung đột giữa Phật giáo và Hồi giáo, cuộc nội chiến giữa chính quyền với các sắc dân vùng biên giới với Thái, với Tầu, và với Bangladesh muốn tự trị.

Nếu bà làm tổng thống, đảng của bà sẽ phải cung cấp những nhà lãnh đạo chính trị và chuyên môn thật sự để giúp bà điểu hành chuyện nước. Nhưng đảng của bà cũng lần đầu tiên được phép hoạt động giới hạn, nên cũng không có ai có khả năng hay kinh nghiệm điều hành cả nước.

Ở đây, nhìn vào thực tế sẽ thấy bà vẫn cần sự hợp tác của các tướng lãnh, cần họ chịu sửa luật cho bà ra tranh cử, rồi giúp bà cầm quyền sau này. Dù sao, quân đội cũng đã nắm quyền gần nửa thế kỷ, tất cả guồng máy chính quyền đều là quân nhân hay đồng minh. Do đó, bà đã có thái độ có vẻ thân thiện với các tướng lãnh gần đây.

Miến đã dứt khoát áp dụng chính sách “thoát Tầu”, mới đây đã đơn phương hủy vài dự án lớn của TC, như dự án tân trang các hải cảng, lập nhà máy thủy điện lớn, và xây đường xe lửa từ biên giới TC-Miến đến tận biển Bengal phiá Nam Miến. Trái với những đấm ngực khoe công của chính quyền Obama, “thoát Tầu” là chính sách xuất phát từ TT Thein Sein, không phải do thúc đẩy của Mỹ, tuy Mỹ khuyến khích mạnh. Miến Điện chấp nhận bà Suu Kyi là cái giá phải trả để thoát Tầu.

Chiều hướng này đi song song với những cởi mở trong nước (như chấm dứt kiểm duyệt báo, cho dân tự do dùng điện thoại và vào internet), và xích lại gần Mỹ. Những cố gắng móc nối Mỹ–Miến đã từng được cựu thượng nghị sĩ Virginia, Jim Webb phát động, sau đó được bà Ngoại Trưởng Hillary tiếp tục. Bây giờ TT Obama muốn đẩy mạnh thêm cho tiến trình chạy nhanh hơn. Nhưng TT Thein Sein đi rất chậm rãi, không muốn đi theo con đường quá mau của Gorbachev, đưa đến xụp đổ toàn diện. Các tướng lãnh Miến chấp nhận thay đổi, nhưng không ai muốn tự vẫn.

Thoát Tầu, xích lại với Tây Phương, cấm vận sẽ được tháo gỡ, đô-la và Euro sẽ đổ vào, chuyên gia, cố vấn sẽ tràn ngập. Miến Điện sẽ qua mặt CSVN trong vài năm. Không phải vì giỏi gì hơn, mà chỉ vì thật tâm hơn.

TT Thein Sein thật tâm muốn cải đổi tận gốc rễ, xoá bỏ độc tài xã hội chủ nghiã, khác với CSVN chỉ muốn thay đổi về kinh tế để các quan có dịp kiếm tiền trong khi vẫn bám víu vào quái thai “định hướng xã hội chủ nghiã”. Liên Xô có Gorbachev và Yeltsin, Miến Điện có Thein Sein và Suu Kyi, Việt Nam có ai? Một câu hỏi người Việt nào cũng muốn biết câu trả lời. (16-11-14)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Ý kiến bạn đọc
19/11/201415:03:58
Khách
Một bài viết với nhiều chi tiết đáng biết về xứ Miến Điện .
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết với tỷ lệ 6-3 trong vụ kiện Trump rằng Đạo Luật Quyền Lực Kinh Tế Khẩn Cấp Quốc Tế (IEEPA) không cho phép tổng thống áp đặt thuế quan, vô hiệu hóa các mức thuế quan rộng khắp đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, đến Mexico và Canada, đã được chính quyền Trump ban hành nhằm chống lại nạn buôn bán fentanyl và giải quyết thâm hụt thương mại.
Khi những trang hồ sơ Epstein lần lượt phơi bày ra trước công chúng như một trận mưa giấy màu đen đầy chất độc hại, có hai người phụ nữ bước ra trong bóng tối của kẻ săn mồi. Họ hiện diện ở hai tư thế hoàn toàn khác nhau, nhưng có một điểm trùng lắp với cái tên đang là nỗi ám ảnh trong ngôi nhà quyền lực nhất ở Washington, DC. Cuộc đời của hai người phụ nữ này, trực tiếp và gián tiếp, đều liên quan đến Jeffrey Epstein, tội phạm tình dục đã bị kết án và được cho là đã tự tử trong lúc thụ án.
Trên mặt tiền trụ sở của Mussolini ở Rome, từng có một dãy chữ khổng lồ lặp đi lặp lại: “SI SI SI SI SI” – “vâng, vâng, vâng, vâng, vâng” in kín cả mấy tầng lầu. Hình ảnh ấy không phải khẩu hiệu phức tạp, cũng không phải bản cương lĩnh chính trị. Nó giống như bản tóm tắt cô đọng của một chế độ sống nhờ thói quen gật đầu: chủ nghĩa phát xít không chỉ đứng trên những mệnh lệnh, mà đứng trên những tiếng “vâng” người ta nói ra – và cả những tiếng “không” bị nuốt lại.
Thế giới đang đứng trước nguy cơ bất ổn nghiêm trọng về an ninh chiến lược khi Hiệp ước New START – thỏa thuận quốc tế được Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký kết năm 2010 nhằm giới hạn kho vũ khí hạt nhân của hai nước – sẽ chính thức hết hạn vào ngày 5 tháng 2 năm 2026. Theo nội dung các điều khoản của hiệp ước, mỗi bên không được triển khai quá 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) và oanh tạc cơ có khả năng mang vũ khí hạt nhân; tổng số đầu đạn hạt nhân không vượt quá 1.550. Ngoài ra, số bệ phóng của mỗi nước bị giới hạn ở mức 800, và hai bên được quyền tiến hành các cuộc thanh sát lẫn nhau hằng năm, dù cơ chế này đã không còn được thực thi trong những năm gần đây. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, vào năm 2021, New START đã được gia hạn một lần duy nhất thêm 5 năm.
Trong 22 năm làm cảnh sát, Phuson Nguyễn, một cảnh sát thủ đô (MPD), sinh năm 1979, con của một vị đại tá miền Nam Việt Nam, đã đối phó với hàng ngàn cuộc biểu tình theo Tu Chính Án Thứ Nhất. Lớn, nhỏ đều có. Anh nhận lệnh đến cuộc biểu tình ngày 6/1/2021 cũng bình thường như thế, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp của người dân. Lực lượng MPD có mặt ở thủ đô từ khoảng 10 giờ sáng. Cho đến lúc đó, MPD không nhận được bất kỳ thông tin tình báo nào cho thấy sẽ có bạo lực xảy ra. Ngồi trong xe tuần tra, Phuson quan sát người qua lại trong thủ đô. Theo thời gian, ngày càng nhiều người đi về phía Điện Capitol. Nhưng cả anh và đơn vị không nghĩ gì cả, “ít nhất là tôi và đơn vị của tôi, nghĩ rằng họ chỉ đến đó để biểu tình, và bày tỏ quan điểm, sự bất đồng của họ về kết quả bầu cử, điều mà họ có quyền làm.”
Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã huy động khoảng 3.000 nhân viên thuộc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đến Minneapolis, thành phố lớn nhất của bang Minnesota. Những hành động truy quét tàn bạo của ICE nhắm vào người nhập cư bất hợp pháp dẫn đến cái chết của Renee Nicole Good và Alex Pretti, hai người dân Mỹ da trắng, đã gây phẫn nộ trong dư luận và truyền thông quốc tế. Thực tế cho thấy ICE còn theo đuổi những mục tiêu chính trị rộng lớn hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Lực Lượng Hải Quân Mỹ đang lặng lẽ thay đổi vị trí hoạt động, đúng vào thời điểm Iran, Nga và Trung Quốc đang thể hiện sự đoàn kết hải quân ngày càng tăng ở một số vùng biển căng thẳng và tranh chấp nhất trên thế giới. Theo các báo cáo khu vực, tàu sân bay USS Abraham Lincoln đã di chuyển về phía nam, định vị mình xa hơn bờ biển Iran so với trước đây.
Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự. Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.