Hôm nay,  

Mơ Trong Nỗi Nhớ

12/04/201500:01:00(Xem: 7468)
Mơ Trong Nỗi Nhớ
Nguyễn Ngọc Phúc
 
Saigon không phải là nơi sinh đẻ của tôi nhưng được lớn lên theo dòng đời với gia đình, cha mẹ, anh chị em, hàng xóm, bạn bè, truờng học và vợ con, tôi thương yêu Saigon vô cùng.
 
Với tôi, một quê hương rộng lớn kể từ Bến Hải cho tới mũi Cà Mâu, Saigon được xem như là một quê huơng thu nhỏ lại của tôi.
 
Năm 1979, sau nhiều lần cố gắng vượt biên không thành cộng thêm với tù tội và mất việc, ngày 18 tháng 10 năm 1982,tôi cùng vợ con và gia đình đã rời Saigon sang Mỹ theo diện ODP.
 
Mang theo cả một quãng thời gian dài hơn 30 năm với Saigon trên vai, tôi đã bỏ biết bao nhiêu thứ trong hành trang ly hương.
 
Nơi đất lạ quê nguời, hành trang đã đuợc mở ra.
 
Mình tuởng có thật là nhiều thứ mang theo nhưng cuối cùng chỉ còn vài bộ quần áo made in Vietnam, đồ dùng cá nhân không kể một số áo lạnh của tỵ nạn IRC Mỹ cho ở phi truờng Seattle, giấy tờ cá nhân và gia đình. Chắc chắn, không quên hằng trăm hình ảnh kỷ niệm ngày xưa.
 
Chẳng có gì hơn một valy xách tay  nhỏ đem theo nhưng bên cạnh đó, tôi không nhớ mình còn có một bao hành lý to lớn của kỷ niệm, đau thuơng và nhớ nhung đầy ở trong tim và ký ức.
 
Túi xách nhỏ được mở và quần áo được lấy ra dùng. Chẳng mấy chốc, chúng mau chóng bị thay thế bằng nhãn hiệu Made in USA.
 
Từ đó, túi xách nhỏ và những gì made in Viêtnam đã được xếp vào chỗ quên lãng không tên và rồi biến mất trên cõi đời này lúc nào không hay, không một chút thắc mắc luyến tiếc. Điều lạ là bao hành lý to lớn của kỷ niệm, đau thuơng và nhớ nhung vẫn còn nguyên trong người.
 
Những mảnh vụn của cuộc đời không biết đã đuợc từ đâu bỏ vào và từ bao giờ nhưng không có tên, thứ tự hay ghi chú. Cho nên, thời gian đã đứng lại trong bao hành lý kỷ vật đó.
 
Nó không cồng kềnh và chẳng được gói ghém cẩn thận, vừa to vừa nhỏ khác nhau. Nó có thể rực rỡ đẹp đẽ hay xấu xí lạ lùng và nằm trên khung đen trắng nhạt nhòa hay mang nhiều mầu sắc tươi sáng  khác nhau nhưng kỳ diệu thay cả một kho tàng nhặt nhạnh khổng lồ lung tung của hàng chục năm dài  như thế trong bao nhưng sao vẫn thấy nhẹ tênh bồng bềnh trên vai.
 
Có một lớp bụi mỏng của thời gian phủ mờ trên đó nhưng vẫn không che dấu nổi những gì bên dưới với gia đình, vợ chồng, con cái, bạn bè, xóm cũ, làng xưa và nhứt là của Saigon.
 
Lục lọi những gì của Saigon nằm trong ngăn kéo đời mình, tôi đã lôi ra được biết bao mầu kỷ niệm.
 
Có những cái nhạt nhòa đến độ chỉ nhìn thấy bóng mờ của thời gian. Chúng ở quá xa để kéo về và đến gần thì mọi vật tự nhiên tan biến đi như mù khơi bay theo mây trời chiều.
 
Mọi người trong thi văn, hội họa và âm nhạc nhắc đến quê xưa làng cũ, có cây đa cao ngất từng xanh, hay kể lể về buổi trưa hè sau mái liếc dừa và bụi tre, có em bé chăn trâu với tiếng sáo diều vi vu trên đê hay đôi cò trắng tung bay giữa trời.
 
Quê xưa làng cũ của tôi không có cảnh nên thơ và thanh thản đó. Quê hương nhỏ bé của tôi chỉ là cái xóm, cái khu có tên bình dân gọi là Bàn Cờ, nơi xóm hẻm quanh co, nhà ngõ chật hẹp, cột điện và giây nhợ giăng rối quay,  không cây cối bóng mát bên đường.
 
Ở một nơi, sáng không có tiếng gà gáy sớm gọi, trưa không có một bóng dâm để núp buổi nắng hè và rồi cũng không có gió chiều để thương nhớ bao nhớ nhung.
 
Tôi đã lớn lên với tiếng hàng rong rao bán đều đặn từ sáng sớm bình minh cho tới quá nửa đêm thanh vắng.
 
Chỉ nghe tiếng rao hàng, tôi biết mình đã đến giờ thức dậy hay nửa đêm đã về hay chưa.
 
Tôi vẫn nhìn thấy đuợc tại góc đuờng Phan Đình Phùng và Bàn Cờ, bên hông tiệm bán thuốc tây, mỗi đêm, có một xe chiên bánh tiêu và dầu cháo quẩy của một chàng trai  lùn nguời Hoa dễ thương đứng chiên, nói tiếng Việt giọng Nam rặt không thua nguời Bàn Cờ. 
 
Ánh sáng của bếp chảo làm lung linh bóng hình nguời mua và lạp lòe nỗi cô đơn im lặng của nguời bán.
 
Nguời mua và nguời bán chẳng ai nhiều lời với nhau đến độ biết nhau và gặp nhau cả chục năm thế nhưng cho đến lúc này, tôi cũng không biết tên chàng ta là gì?
 
Khi mọi nguời đã lên giường tìm giấc ngủ thì văng vẳng vào lúc nửa đêm đầu xóm, có tiếng rao hàng mệt mỏi mời ăn  “ nem nướng ” của một bà già Huế mảnh mai ốm yếu, chít khăn rằng, quẩy gánh trên vai, lắc lư buớc vào xóm, tưởng như đi không nổi qua bóng đêm dài vì gánh hàng quá nặng với nào là bếp nướng, thịt thà, rau cỏ, chén dĩa vv.
 
Thỉnh thoảng, đặt gánh trước cửa nhà tôi, bà già than thở “hôm nay, ế quá, cô cậu ăn dùm dì miếng nem đi”
 
Trong bóng đêm, tôi không trông thấy khuôn mặt sầu bi ế ẩm của bà nhưng nghe giọng nói bấy nhiêu đó cũng đủ làm cho chúng tôi thấy không thể nào từ chối lời mời này của bà mặc dù không đói.
 
Có khi thèm một đĩa bánh cuốn Lạng Sơn hay một tô phở Chua hoặc một chén cháo xườn, tôi phải mất cả nửa tiếng đồng hồ chờ đợi vài cái bánh cuốn nhân thịt cuốn méo mó xấu xí đưa ra từ một cửa hàng bánh cuốn Lạng Sơn trong xóm Bàn Cờ, cách nhà tôi khoảng 50 mét.
 
Chờ đợi nhưng đuợc giết thì giờ vì phải nghe những lời bà bán bánh cuốn chửi chó mắng mèo đến chồng con.
 
Một tay thì đổ bánh cuốn trên khung, một tay thì quậy nhân thịt chiên bằm trên chảo vàng cháy nhưng đầu và miệng thì luôn luôn phát thanh hướng vào trong nhà cho chồng con nghe.
 
Khách hàng ngồi nghe hay không nghe không phải là chuyện của bà bán hàng. Cho nên, cái  bánh cuốn được kéo ra khỏi nồi hấp, trải lên mâm nhôm, đổ một ít nhân thịt cháy vào giữa và cuốn lại nhanh đến độ bất kể nghệ thuật méo tròn xinh xắn gọn gàng như thế nào.
 
Cuối cùng, cái dị hình lập thể xấu xí nhăn nhúm bèo nhèo như tấm giẻ rách trắng nhỏ được đặt trên đĩa đưa ra cho khách.
 
Đến khi có chén nước mắm pha với thịt bánh cuốn chiên vàng cháy trộn lẫn đem ra, tôi chẳng còn nhớ những lời gì từ bà bán bánh cuốn phát thanh tát nuớc xối xả vào mặt chồng con.
 
Bỏ một tí bánh cuốn vào cho ngập chén nuớc mắm, xong sắn ra từng miếng nhỏ, đưa lên miệng, không quên xen lẫn với vài miếng nhân thịt vàng cháy béo ngậy trộn trong nuớc mắm.
 
Nó vừa mặn, vừa ngọt, vừa đậm đà mà vừa cay, ngon làm sao thế.
 
Nhai mà không dám nuốt vội vì sợ mất cái ngon và nước bọt đang từ từ đổ ra ào ạt trong miệng từ chân răng và miệng luỡi.
 
Thành ra, cái nhăn nhúm giẻ rách mầu trắng trên đĩa đó cuối cùng cùng được sung sướng êm ả nuốt trôi vào bụng nhờ cái vị ngọt, cay, mặn và đậm đà này.
 
Trăm lần như một, nửa tiếng đồng hồ sau , tôi luôn luôn bị Tào Tháo ruợt bắt đầu từ lâm râm bụng dạ, sau đó, không thể chần chờ lâu hơn nữa, phải nhập viện W.C tức khắc.
 
Nhưng chuyện nhỏ này không bao giờ có thể cấm tôi tránh xa cửa hàng bánh cuốn Lạng Sơn này đuợc.
 
Tôi vẫn đến ăn và tôi vẫn nhập viện W.C nửa giờ sau đó đều đều. Nó gần như là một phần tự nhiên nằm trong menu của món bánh cuốn Lạng Sơn Bàn Cờ.
 
Đôi khi nghe phát thanh mãi cũng chán, tôi mang ra một cái đĩa không của mình để lại đó chờ order to go và nửa tiếng đồng hồ sau, chạy ra pick up.
 
Bây giờ, nhờ văn minh của mạng lưới Internet toàn cầu và ông H.C.Đ, tôi mới chẩn được bệnh và tìm ra sự quan hệ giữa bánh cuốn, nước mắm của cửa hàng bánh cuốn Lạng Sơn và viện W.C.
 
Đó là hội chứng bột ngọt.
 
Tên khoa học gọi là Monosodium Glutamate hay Sodium Glutamate, gọi tắt là MSG. Người Saigon gọi là bột ngọt, người Hanoi gọi là mì chính.
 
Thay vì vào viện W.C , tôi đã may chẳng bao giờ phải nhập viện C.R ( Chợ Rẫy)
 
Năm 2003, tôi trở về Saigon lần đầu tiên sau 21 năm xa cách.
 
Nhìn thành phố quê huơng qua cửa sổ phi cơ khi nghiêng mình đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, lòng nôn nao bồn chồn dữ dội vì không biết ở duới đất kia có còn một chút gì để nhớ để thuơng không hay ở xóm Bàn Cờ ngày xưa đó, không biết xe bánh tiêu, gánh nem nướng, hàng bánh cuốn Lạng Sơn bây giờ ra sao.
 
Một tuần sau và chỉ một tuần thôi, ngày lên phi cơ trở về Mỹ và khi ngồi viết lại những cảm nghĩ này, tôi biết tôi có một nỗi buồn mới, nỗi buồn không thể nào cởi bỏ đuợc, nỗi buồn không bao giờ buông rơi đuợc, nỗi buồn không thể nào tha thứ đuợc vì tôi đã tự mình lấy ra trong ngăn kéo cuộc đời những khung hình kỷ niệm xưa của Saigon, tôi đã đánh rơi và làm nó bể tan nát trên các vỉa hè và ngõ ngách của Bàn Cờ rồi vỡ vụn trên đường phố của Saigon khi quay về thăm chốn xưa.
 
Dở lại trang sách cũ, tôi tuởng sẽ đuợc tô lại một lớp mầu tươi mới trên phố xưa cảnh cũ nhưng….
 
 Buồn Ơi! Tôi không tìm được đường xưa trở về.
 
Tôi mơ sẽ đuợc ngồi lại êm ả ở dưới mái hiên một quán cà phê nhỏ vỉa hè ngã tư Phan Đình Phùng và Bàn Cờ với một chút nhạc tình ca văng vẳng bên tai năm nào:
 
………..“ Em tan trường về đường mưa nho nhỏ…”
               Em tan trường về đường mưa nho nhỏ
 
cùng bạn bè lặng lẽ nhìn đời vui mắt qua lại và tận huởng nỗi bình yên êm ấm ngày xưa nhưng quanh tôi ở đây, có cả một dòng đời 360 độ đang quá ồn ào, cuồn cuộn, bụi mù, nguợc xuôi và hối hả.
 
Năm chữ nghĩa này không biết đã đủ để vẽ được khuôn mặt mới mệt mỏi xô bồ của Saigon chưa? Riêng tôi, quá nhiều.
 
Hạnh phúc không còn một chỗ đứng chen chân trong khói mù ngộp thở đó. Tôi không biết nếu có tìm được góc phố xưa trở về và đứng ở đấy, tôi phải định nghĩa hạnh phúc như thế nào.
     
Đây là một lần và là một lần duy nhứt, tôi mở ngăn kéo ra để xem gói hành trang xa xứ mà tôi cất dấu trong người. Tôi tự hứa sẽ không bao giờ lấy ra xem thêm những mầu kỷ niệm khác nghĩa là trở về lần thứ 2.
 
Tôi đã thật sự trả lại Saigon những gì của Saigon.
 
Hôm nay, không còn cuồn cuộn ồn ào và bụi mù hối hả nguợc xuôi ở đây, tôi biết hình như mình đã tìm được một bến đỗ để đứng lại đón chờ hạnh phúc đang tới.
 
Dù cũng chỉ là hình như nhưng chắc chắn tôi biết những gì của Saigon còn lại nằm trong túi hành trang mầu kỷ niệm của tôi mới thật sự của riêng tôi.
 
Ngoài ra, tôi đã trả hết cho Saigon những kỷ vật tôi còn mang trong người từ ngày ra đi hơn 30 năm trước đây.
 
Cuối cùng, rồi trôi theo dòng đời ở đây, hành trang mầu kỷ niệm có lẽ sẽ được xếp lại cũng giống như những ngày đầu tiên tôi đặt chân đến bến bờ tự do sau 30 tháng 4 năm 1975 này :
 
“Từ đó, túi xách nhỏ và mọi thứ đã được  xếp vào chỗ quên lãng không tên và rồi biến mất trên cõi đời này lúc nào không hay, không một chút thắc mắc luyến tiếc”.
 
Trước khi xếp lại lần cuối cùng, tôi đã không quên gói vào đó một dòng nhạc riêng của mình như một bi khúc của bản trường ca ước mơ, một tấu khúc khi mở đầu đã là kết thúc cho Saigon và cho một tình yêu đã mất, chỉ còn MƠ TRONG NỖI NHỚ.
 
Đấy chính là tấm hình mầu cuối cùng không mệt mỏi của Saigon, chắc chắn tôi sẽ để riêng trong bao kỷ vật.
 
Nó sẽ không bao giờ được xếp vào chỗ quên lãng hay biến mất trên cõi đời này.
 
Chỉ có tôi biến mất mà thôi.
 
Dù Xa, Dù Xưa, Vẫn Thương Nhớ.
                                                                  
MƠ TRONG NỖI NHỚ
 
Saigon ơi!
 Tên ngày xưa gợi giấc mơ hồng
Saigon xưa
 Tim còn vương nỗi nhớ thương
Saigon thân yêu ngày qua
Saigon vẫn như ngàn năm
Tên hát hát vang
Vượt biển khơi
Về với núi sông
 
Từ ngày xa đó.
 Theo từng bước về
  Tình hồng mơ
Đường thênh thang
 Nghe chiều rơi
 Chút mưa buồn
Nụ hôn xưa
 Chưa kịp trao
 Tim vỡ tan rồi
Thương cuồn cuộn trôi
Nỗi nhớ nhung
 
Saigon ơi!
 Tôi vẫn tin
 Ngày nắng mai hồng
Ngày trên môi
Tôi chợt nghe tiếng yêu thương
Gửi về nơi hương nồng xưa
Một trời thương nhớ
Tôi còn mơ
Việt Nam tiếng hát vang
Bài tình ca
Yêu đất nước phố xưa
 
Quê hương xa
Quê hương xưa
Thương nhớ
  
 Cám ơn bạn đã đọc.
 
 California, kỷ niệm mỗi tháng 4 trở về.

xin mời nghe ca khúc "Sài Gòn, Mơ Trong Nỗi Nhớ":
https://youtu.be/pE6zRmfxDBw
 
 Nguyễn Ngọc Phúc


.
,

Ý kiến bạn đọc
10/04/201505:34:07
Khách
Trời ơi! Tôi thật mừng khi được biết có người tên Áo Trắng vẫn còn nhớ đến xe bánh tiêu và dầu cháo quẩy ở góc đường Phan Đình Phùng và Bàn Cờ cũng như quán bánh cuốn Lạng Sơn trong hẻm Bàn Cờ nhưng trong….giấc mơ.
Cám ơn người Áo Trắng thật nhiều và chỉ xin Áo Trắng hãy gói chặt Saigon và kỷ niệm của mình vào hành trang xa xứ vì những gì mình giữ ở đó mới chính là quê hương của chúng ta.
Saigon sẽ không bao giờ bị quên lãng và biến mất chỉ có minh sẽ biến mất một ngày nào mà thôi.
Các bạn hãy tin tôi đi.
Dù Xa, Dù Xưa, Vẫn Thương Nhớ.
NNP
06/04/201523:34:53
Khách
Cám ơn Ông Phúc đã viết hộ tôi những ý nghĩ về Saigon . Tôi cũng ở xóm Bàn Cờ trước 1975, và được sinh ra tại Bàn Cờ . Tôi vẫn không quên món bánh tiêu và dầu cháo quẩy góc Phan Đình Phùng và Bàn Cờ và món bánh cuốn độc đáo trong ngõ hẻm của chợ, trên con đường dẫn ra đường Bàn Cờ và chùa Kỳ Viên . Tôi chưa bao giờ về lại Bàn Cờ từ lúc bỏ nước ra đi đã gần 40 năm rồi . Tôi không muốn về vì muốn giữ mãi hình ảnh thân thương của Bàn Cờ và của Saigon yêu dấu xa xưa . Tôi biết mình sẽ lạc lõng ngay chính quê hương mình nếu tôi về, vì thế tôi chọn tìm trong mơ những ký ức, kỷ niệm còn hơn chạm thực tế phũ phàng với quê hương như Ông nói đã quay 360 độ mà theo tôi lại quay theo chiều ngược , mọi thứ và giá trị đều đảo lộn .
Một lần nữa thành thật cám ơn Ông .

Áo Trắng
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.