Hôm nay,  

Chơi Với Mỹ

06/08/201600:00:00(Xem: 9085)
NAFTA và NATO trong cơn lốc tranh cử

Từ năm 2008 đến 2015, Hoa Kỳ mất bảy năm thương thuyết Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP căn cứ trên sáng kiến tự do mậu dịch năm 2005 của bốn nước nhỏ trên vành cung Thái Bình Dương, là Brunei, Chile, New Zealand và Singapore. Nhưng tới khi hoàn thành ngày năm Tháng 10 năm ngoái, và ký kết với 11 quốc gia đối tác vào ngày bốn Tháng Hai năm nay, thì thỏa ước lại bị khựng vì không được Quốc hội Mỹ phê chuẩn.

Ban đầu còn hoài nghi lợi ích của chế độ tự do thương mại mở rộng, sau một năm cân nhắc do dự, Chính quyền Barack Obama tiến hành việc đàm phán qua hơn hai chục hội nghị chuyên môn và tin rằng đây là điều có lợi cho nước Mỹ, thậm chí là một trong những di sản lịch sử của Obama. Trở ngại của việc thông qua Hiệp ước TPP xuất phát từ sự chống đối của đa số bên đảng Dân Chủ của ông Obama và càng trở thành nan giải hơn vì lần này, đảng Cộng Hòa cũng hoài nghi giá trị của TPP, chứ không ủng hộ mạnh như hoàn cảnh Hiệp ước Tự do Thương mại Bắc Mỹ NAFTA do Chính quyền Bill Clinton bên đảng Dân Chủ thi hành từ năm 1994 với hậu thuẫn Cộng Hòa.

Những mâu thuẫn ấy trong nội tình chính trị của nước Mỹ còn được khuếch đại vì năm nay Hoa Kỳ có tổng tuyển cử, khi dân Mỹ bầu lại lãnh đạo Hành pháp (Tổng thống và Phó Tổng thống), toàn thể 435 Dân biểu, 34 Nghị sĩ và 12 Thống đốc Tiểu bang. Đặc biệt hơn cả, hai ứng cử viên thụ ủy hai liên danh Cộng Hòa và Dân Chủ đều mạnh mẽ chống đối Hiệp ước TPP mà còn đòi thương thuyết lại Hiệp ước NAFTA với hai đối tác Bắc Mỹ và hai bạn hàng lớn nhất của nước Mỹ là Canada. Các dân biểu nghị sĩ đang lo tái tranh cử cũng phải suy nghĩ lại về lập trường của mình vì phản ứng chống hay thuận của cử tri địa phương, căn cứ trên số phận của họ và trên cách giải trình của báo chí.

Chìm sâu trong cuộc tranh luận, người ta thấy ra một hiện tượng tương đối mới lạ, là trào lưu bảo vệ quyền lợi quốc gia dân tộc đang lấn át lý tưởng tự do ngoại thương, kinh tế thị trường và hiện tượng toàn cầu hóa mà nước Mỹ từng cổ võ và phát huy. Một khía cạnh khác của trào lưu này là chủ nghĩa quốc gia, hay tinh thần “Hoa Kỳ Trên Hết” mà tỷ phú New York là Donald Trump đã nâng thành chủ thuyết và minh diễn qua lập tường của ông về Minh ước Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO.

Trong 10 năm “Chiến tranh Việt Nam” sau khi Hoa Kỳ giật tay lái để tiến hành cuộc chiến trong khung cảnh Chiến tranh lạnh, người Việt ta biết rất ít về nội tình chính trị của nước Mỹ vào mùa tổng tuyển cử, thí dụ như 1964, 1968 hay 1972, và bẽ bàng rồi kinh hoàng về quyết định của lãnh đạo Hoa Kỳ. Lần này, chúng ta đang chứng kiến, ở tại chỗ, một trường hợp tương tự trong khi tâm tư vẫn âu lo về sóng gió ngoài Đông Hải và mối nguy từ Trung Cộng.

Vì vậy, chúng ta nên tìm hiểu hiện tượng này, cụ thể là qua hai hồ sơ NAFTA và NATO.

Chúng ta chưa biết dân Mỹ nghĩ sao về việc chưa có mà đã đầy chướng ngại là TPP, nhưng có thể thấy ra bài toán chính trị của lãnh đạo Hoa Kỳ qua hiệp ước kinh tế năm 1994 là NAFTA (nội dung của bài tuần này) và một hiệp ước về an ninh năm 1949 là NATO (xin hẹn tuần sau!)

***

Trong cuộc tranh cử năm nay, ngoài những mâu thuẫn về chủ trương và đả kích về tư cách bất xứng của đối phương, hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ duy nhất có chung một ý kiến.

Đó là đòi xét lại nguyên tắc tự do mậu dịch (hay tự do thương mại, hay giao dịch ngoại thương và đầu tư theo tinh thần tự do) và thậm chí thẩm định lại giá trị của hiện tượng toàn cầu hóa. Một cách cụ thể, cả hai ứng cử viên Donald Trump và Hillary Clinton không chỉ phản bác Hiệp ước TPP chưa áp dụng mà cùng muốn thương thuyết lại Hiệp ước NAFTA đã thi hành từ 22 năm trước.

Khi theo dõi - và nếu muốn hiểu ra ưu thế của nền dân chủ thì nên theo dõi - người ta có thể thấy chính trường Mỹ tranh luận về NAFTA căn cứ trên một yếu tố chính là nhân dụng, cụ thể là ảnh hưởng của hiệp định thương mại trên công ăn việc làm của dân Mỹ.

Có một quy ước chung được mọi người Mỹ đồng ý là qua giao kết buôn bán với nước khác. Hoa Kỳ có thể được lợi nhưng nhiều thành phần sản xuất bị thiệt hại và chính quyền liên bang có nhiệm vụ trợ giúp việc chuyển hướng làm ăn cho những người bị thất thế. Cộng Hòa hay Dân Chủ đều biết, nói ra và thi hành việc trợ giúp ấy. Nhưng với nhiều người thì hình như là chưa đủ. Mà muốn đủ thì chính trường phải can thiệp vào thị trường!

Y như cuộc tranh luận năm nay về TPP, trong các năm 1992-1994 rồi sau đó, chính trường Mỹ tranh luận về sự lợi hại của NAFTA và về chương trình yểm trợ việc chuyển hướng sau khi áp dụng.

Về sự lợi hại, trước khi biểu quyết, Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ đã có 141 phát biểu chống đối và 219 phát biểu ủng hộ. Từ phe chống, có 112 vị dân cử nêu ra kết luận là NAFTA sẽ diệt công ăn việc làm của công nhân Mỹ và từ phe thuận có 199 tham luận nói rằng NAFTA sẽ tạo ra công ăn việc làm. Then chốt ở đây là người ta tranh luận về những gì chưa xảy ra cho nên chỉ có thể căn cứ trên các dự báo.


Ai thực hiện các dự báo này cho các chính khách?

Câu trả lời là các chuyên gia kinh tế. Họ là ai và dựa trên cơ sở gì để đưa ra những dự phóng ấy? Câu trả lời còn nhức tim hơn: các chuyên gia kinh tế có sẵn lập trường chính trị, nhiều khi cộng tác với các trung tâm chính trị và dùng chuyên môn để hậu thuẫn cho chính trị.

Có trụ sở tại Paris, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (được mấy chục nước phát triển thành lập từ năm 1961) đã công bố kết quả thẩm xét ảnh hưởng nhân dụng của NAFTA qua 10 công trình nghiên cứu được đưa ra trước khi phê chuẩn Hiệp ước.

Các công trình nghiên cứu dùng nhiều phương pháp chuyên môn để nêu ra các dự phóng về công ăn việc làm. Kết quả tóm lược: bốn phúc trình cho là NAFTA có ảnh hưởng thấp hoặc vô hại cho việc làm của dân Mỹ; hai phúc trình kết luận là lợi hơn hại; một phúc trình dự báo là việc làm sẽ tăng từ hơn 40 ngàn đến 61 ngàn; một phúc trình còn kết luận là sẽ có thêm 175 ngàn công việc mới. Duy nhất một công trình nghiên cứu đưa ra dự đoán u ám là trong 10 năm tới, có một triệu 600 ngàn việc làm bị mất. Phúc trình sau cùng thì nêu ra ước tính mơ hồ hơn: thêm chừng 225 ngàn tới 264 ngàn việc nhưng có thể mất từ 400 đến 900 ngàn việc, mơ hồ như vậy vì đấy là tùy theo lượng đầu tư ngoại quốc vào xứ Mexico. Trong khi đó, năm 1994, xứ Mễ bị khủng hỏang tài chánh và xém vỡ nợ nên có hoàn cảnh kinh tế khác bất thường, dựa trên đó mà đoán thì đôi khi lạc quẻ.

Không thể đi sâu vào chi tiết, ta chỉ cần thấy là trước khi phê chuẩn Hiệp ước, đa số giới chuyên gia thời đó cho rằng hiệu ứng NAFTA trên thị trường lao động Mỹ, theo hướng lợi hay hại, thật ra không đáng kể.

Nhưng vì thời ấy vẫn có người chống nên Hành pháp Clinton và Lập pháp khi ấy do đảng Dân Chủ kiểm soát cả hai viện mới giàng thêm một đạo luật NAFTA-TAA trước khi ký kết: gọi là NAFTA Trade Adjustment Assistance Program, để trợ giúp bất cứ công nhân nào bị mất việc hay bị giảm lương vì khuôn khổ kinh tế mới. Biện pháp này không có gì mới lạ vì, như đã nói ở trên, hai đảng đều đồng ý và ban hành việc yểm trợ mỗi khi Hoa Kỳ có một hiệp ước thương mại kể từ thời 1960, khi John Kennedy làm Tổng thống. Từ khi chương trình này được ban hành năm 1994, đã có 845 ngàn người nộp đơn xin chính phủ trợ giúp.

Chúng ta phải nhắc lại bối cảnh dài dòng ấy để thấy mọi phe trong cuộc đều tham gia trận đánh NAFTA ngay từ đầu, nhưng hầu hết là các dự phóng dựa trên một số giả thuyết và lý luận theo hướng này hay hướng khác. Nổi bật trong phe chống NAFTA là Viện Chánh sách Kinh tế Economic Policy Institute thuộc cánh tả, có sự yểm trợ của nghiệp đoàn AFL-CIO. Với lập trường trung dung hơn, lò trí tuệ là think tank Peterson Institute for International Economics cũng được các doanh nghiệp tài trợ đến 44% ngân sách. Còn Phòng Thương mại Hoa Kỳ US Chamber of Commerce thì triệt để ủng hộ NAFTA vì là một hiệp hội vận động của doanh giới.

Nói chung thì tổ chức nào cũng chọn dữ kiện và thời điểm trắc nghiệm để đưa ra kết luận theo hướng có lợi cho lập trường chính trị của mình.

Sự thật ở đây, như phúc trình nghiên cứu của Quốc hội (US Congressional Research Service) công bố năm ngoái hoặc công trình nghiên cứu của Hội đồng Cố vấn Kinh tế bên Tổng thống nhận định năm nay: hậu quả bất lợi không đáng kể so với nhiều lợi ích khác. Quan trọng nhất, sự thật ít ai nói tới là kinh tế Hoa Kỳ lệ thuộc rất ít vào xuất cảng, chỉ có 14% của Tổng sản lượng, nên hậu quả tốt xấu về công việc làm liên quan đến xuất cảng thật ra không nguy ngập bằng hoàn cảnh hiện nay của nhiều nền kinh tế lớn khác trên thế giới, như Nam Hàn, Đức, Brazil hay Trung Quốc. Các quốc gia này đang điêu đứng như anh thuyền chài thủng ruột và kinh hoàng về chuyện công chúa Mỹ đứt tay!

Dù sao mặc lòng, vì có 845 ngàn công nhân Mỹ xin trợ giúp trong khuôn khổ NAFTA-TAA, kẻ lười biếng bèn kết luận là 22 năm qua NAFTA gây thiệt hại cho 845 ngàn người. Báo chí thiếu am hiểu cứ tung số liệu này ra mà không có thêm chi tiết nào về kết quả của chương trình trợ giúp. Trong khi đó, họ quên là thị trường lao động dân sự của Hoa Kỳ có khoảng 150 triệu người và mỗi năm nếu có 16 triệu dân mất việc thì có 18 triệu người tìn ra việc làm mới! Nếu NAFTA làm 100 ngàn người mất việc hàng năm thì đấy chỉ là 0,06% của việc đổi việc trên thị trường lao động.

Nghĩa là chuyện không có gì mà ầm ĩ, nhưng lại thành đề mục tranh chấp quốc tế trong mùa tranh cử vì khiến các chính quyền Canada và Mexico phải theo dõi sự lật lọng của lãnh đạo Hoa Kỳ và tự chuẩn bị cho kịch bản nước Mỹ đòi xóa bài làm lại.

Tậu voi chung với đức ông thì cũng nên biết sợ cồng bà, cứ bốn năm lại gióng lên một lần! Lần sau, ta nói chuyện binh đao khi Hoa Kỳ phải loay hoay với tấm khiên có 27 người vác trên đôi vai của nước Mỹ, là Minh ước NATO…. Nhờ đó, may ra ta hiểu “nỗi niềm Đông Hải”.

Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.