Hôm nay,  

Hai nhà thơ Huế

01/03/201918:12:00(Xem: 7163)

Hai nhà thơ Huế

Lưu Dân, 26.02.2019

(Viết, nhân đọc một tin… tức mình)

Source: SBS Radio, Australia – Vietnamese.



Huế là xứ thơ. Có lẽ do các yếu tố lịch sử, phong cảnh và nếp sống, vùng đất sông Hương núi Ngự là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ – cả nổi tiếng lẫn khét tiếng. Nếu kể hết tên, chắc chắn sẽ thiếu sót. Bài này chỉ viết lơn tơn – không phải với mục đích phê bình văn học hoặc tài liệu giáo khoa gì ráo – về hai tác giả mà cuộc đời và sự nghiệp có những liên hệ oái oăm về thân tộc và chỗ đứng của họ trên văn đàn và trong lòng độc giả.

Tố Hữu, bia miệng để đời

Theo tin của một số báo trong nước, đầu năm nay (2019) một khu lưu niệm nhá thơ Tố Hữu sẽ được xây dựng tại thôn Tân Xuân Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế "nhằm tri ân những đóng góp của ông cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng đất nước, góp phần giáo dục truyền thống và tạo điểm tham quan góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương”.

 

blank

Thông báo xây dựng khu tưởng niệm ông Tố Hữu tại Huế.

Thông báo xây dựng khu tưởng niệm ông Tố Hữu tại Huế.

Kinh phí dự trù – chỉ mới dự trù thôi, chưa kể phần “chi phí phát sinh” thường thấy trong các dự án công cộng ở Việt Nam – là 28 tỷ đồng, lấy từ ngân sách nhà nước (tức tiền thuế của dân).

Để bạn có thể hình dung, khoản tiền ấy (hơn 1 triệu Mỹ kim) bằng chi phí xây dựng khoảng 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá cấp xã – không tính đến giá trị của diện tích đất khá lớn ở vị trí đắc địa của huyện.

Ừ, thì UBND Thừa Thiên – Huế có lý do để làm như vậy vì ông Tố Hữu không chỉ là một nhà lãnh đạo của đảng CSVN mà còn được coi như “nhà thơ cách mạng hàng đầu” của chế độ. Với họ, việc xây dựng khu lưu niệm là ưu tiên hơn 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá ở tỉnh miền trung “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn” này.

(Thật ra, khi còn sinh tiền, ông Tố Hữu khiêm nhượng nhận mình đứng… thứ nhì. Dĩ nhiên, người được xếp hạng trên ông là… “bác”, tác giả được bộ máy tuyên truyền của chế độ thổi lên như “nhà thơ vĩ đại nhất của dân tộc sau Nguyễn Trãi” và cũng là người viết nhiều quyển sách tự ca tụng mình dưới các bút hiệu khác nhau).

Cuộc đời và sự nghiệp của Tố Hữu (1920 – 2002) được chia làm hai phần (không hoàn toàn rõ rệt vì chúng chồng lấn nhau): làm quan và làm thơ. Khi làm quan, ông cũng làm thơ ca tụng chế độ và khi làm thơ, ông viết những bài đầy chất miệng nhà quan.

Đời làm quan của Tố Hữu là một thất bại hiển nhiên. Khi ông đạt đến ngôi vị quan trường cao nhất cũng là lúc người dân sáng tác câu vè mỉa mai “Nhà thơ làm kinh tế / Thống chế đi đặt vòng”. [1]

 

blank

Nhà thơ Tố Hữu và tập thơ Theo Chân Bác

Đời làm thơ của Tố Hữu càng thảm hại hơn. Dù đã in hàng chục tập thơ và các sáng tác của ông được giảng dạy rộng khắp từ bậc tiểu học lên đến đại học trong nhiều thập niên, nhưng sự nghiệp văn chương của Tố Hữu ngày nay chỉ còn lại một cái bỉu môi kinh tởm bởi những người cầm bút cùng thời và thế hệ kế tiếp.

Họ không còn muốn đọc – và thậm chí, không thèm đọc – những bài thơ chiến đấu đầy tính “lãng mạn cách mạng” của thời Việt Bắc, Theo Chân Bác, Ba Mươi Năm Đời Ta Có Đảng hoặc Từ Ấymà chỉ nhớ những đòn thù dã man của Tố Hữu vì tư oán và ghen tài đối với những văn nghệ sĩ chân chính chỉ viết theo lương tâm của người cầm bút.

Nhà thơ Tố Hữu và tập thơ Theo Chân Bác

Trường hợp Nhân Văn – Giai Phẩm ở miền Bắc (từ năm 1955-58) là một ví dụ rõ nét nhất. Cuộc đời oan khiên, bầm dập, tan nát của những tài hoa kiệt xuất trong nền văn học nước nhà như Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Cung… không thể nào đổ thừa cho ai khác ngoài Tố Hữu, Thứ trưởng Bộ Tuyên truyển kiêm “Quan đầu ngành” kiểm soát tư tưởng của giới văn nghệ sĩ miền Bắc.

Khi Nhân Văn – Giai Phẩm bùng nổ, Tố Hữu đã thẳng tay ra lệnh đàn áp, bắt bớ các thành viên cột trụ của phong trào. Tuy ngày nay vụ oan khuất Nhân Văn – Giai Phẩm đã sáng tỏ và các nạn nhân được phục hồi danh dự nhưng Tố Hữu vẫn dửng dưng như người vô can mặc dù nhiều người trong cuộc chỉ đích danh ông ta là kẻ bách hại tự do sáng tác của phong trào này.


blank

Nhà thơ Tố Hữu (bên trái) và Tổng Bí thư Lê Duẩn

Hãy nghe một vài nhận định tiêu biểu trong giới cầm bút ở cả hai miền, cùng và sau thế hệ của Tố Hữu:

Nhà văn Nguyễn Viện, một người bất đồng chính kiến sống tại Sài Gòn, cho rằng thơ của Tố Hữu không hay, thơ của ông nặng tính tuyên truyền, đôi khi đến nỗi khát máu và nịnh bợ quá đáng.

Nhà thơ Hoàng Hưng, sống ở miền Bắc, thuộc thế hệ những văn nghệ sĩ từng bị đàn áp trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, đồng ý rằng thơ Tố Hữu một thời đã thấm sâu vào dân chúng còn hơn cả ca dao nhưng vẫn là thơ tuyên truyền.

Ngoài cái việc chung (phục vụ cho chế độ) thì ông Tố Hữu còn có cái tư thù, vì nhóm Nhân Văn dám làm một cuộc hội thảo để phê bình tập thơ Việt Bắc của ông ấy, trong đó có hai người là Trần Dần và Hoàng Cầm.”

Nhà thơ Tố Hữu (bên trái) và Tổng Bí thư Lê Duẩn

Một bài thơ của Tố Hữu được phổ biến và học tập rộng rãi trong thời Cải cách Ruộng đất, lại là những câu sát máu rợn người và vong bản tột cùng:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ.          

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,                                        

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt

Hoặc những câu thơ vô sỉ như thế này đã và vĩnh viễn là vết nhơ trong dòng thơ hiện đại Việt Nam, kể cả dòng thơ cách mạng:

Áo Ông trắng giữa mây hồng                                                                  

Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười                                                      

Stalin! Stalin!                                                                                          

Yêu biết mấy, nghe con tập nói                                                             

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!                                                                  

….

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười.

Ngay cả những bài thơ về tình yêu của Tố Hữu cũng “thấm đẫm tính đảng”:

Tim anh đó chia ba phần tươi đỏ

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ và phần để em yêu

Em khẽ bảo thế cũng nhiều anh nhỉ... [2]

Việt Nam là nơi có nhiều khu lưu niệm, tượng đài, bia đá nhiều nhất thế giới, một kỷ lục mà quan chức nhà nước rất tự hào. Người ta đua nhau xây dựng các công trình đó – để làm gì, ai cũng biết – dù có khi những nhân vật / sự kiện được lưu niệm chỉ là sản phẩm của sự lừa dối (như anh hùng Lê Văn Tám tẩm xăng chạy vào đốt trại giặc, liệt sĩ Võ Thị Sáu cài hoa lê-ki-ma lên mái tóc trên đường ra sân bắn, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai...).

Tố Hữu không là một trường hợp như vậy. Ông ta là con người với những câu chuyện có thật còn rỉ máu một thời chuyên chính vô sản. Ông ta có xứng đáng được người dân lưu niệm, lập bia hay không?

Nhà thơ Đỗ Trung Quân, tác giả của bài thơ Bài Học Đầu Cho Con được phổ nhạc với tựa Quê Hương (là chùm khế ngọt), một người cầm bút thuộc thế hệ sau ở miền Nam, nhận xét về Tố Hữu:

Ông ấy là một nhà thơ nổi tiếng, nổi tiếng theo kiểu là hàng đầu của văn học cách mạng. Nhưng đó là chuyện của cách mạng, không phải là chuyện của tôi… Cứ xây đi (khu lưu niệm Tố Hữu), để sau này người ta còn có cái để mà hạ xuống.

Mới hay ông bà mình từ xưa nói chẳng hề sai:

Trăm năm bia đá cũng mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
 

Phùng Quán, nhà thơ chân thật

Tuy quan điểm sáng tác và vị trí xã hội khác nhau – và đối nghịch nhau – nhưng, như một định phận trớ trêu, Phùng Quán (1932 – 1995) và Tố Hữu lại có quan hệ thân tộc với nhau. Trong tác phẩm “Ba phút sự thật”, Phùng Quán viết ông gọi Tố Hữu bằng cậu nhưng thực ra Tố Hữu là bác (anh ruột của mẹ) của ông, theo cách xưng hô của người Bắc.

Phùng Quán bắt đầu viết từ rất sớm, khoảng năm 20 tuổi, phần lớn là văn. Ông nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay “Vượt Côn Đảo”, được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955 [3]. Nhưng sự nghiệp của Phùng Quán thật sự đi vào văn học sử - và cuộc đời ông cũng bắt đầu bị cuốn xoáy xuống tận cùng oan nghiệt vì họa văn tự - sau hai bài thơ “Lời Mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí” đăng trong Nhân Văn – Giai Phẩm năm 1957. Gần như lập tức, hai bài thơ này được coi như tuyên ngôn lương thức của giới văn nghệ sĩ miền Bắc lúc ấy.

 

blank

Phùng Quán thời trẻ

Phùng Quán thời trẻ

Phùng Quán bị kỷ luật, tống xuất khỏi quân đội và bị tước tư cách hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ ấy, ông bị lưu đày trong các trại tù cải tạo ở nhiều nơi và sống lây lất với kiếp “câu trộm, rượu chịu, văn chui” [4] suốt gần 30 năm cho đến thời kỳ “đổi mới” giữa thập niên 1980, khi các thành viên của Nhân Văn – Giai Phẩm được phục hồi danh dự.

Trong suốt thời gian bầm dập đó, tên tuổi Phùng Quán hầu như biến mất trên văn đàn dù ông vẫn “viết chui” (lấy tên người khác) và nhận được một số giải thưởng lớn (vẫn do... người khác lãnh) [5].

Phùng Quán chỉ chính thức cầm bút lại năm 1988 với quyển tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” đoạt Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng đã sáng tác nhiều bài thơ giá trị như Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe...

 

Oái oăm thay, năm 2007, tức 12 năm sau khi ông qua đời, Chủ tịch nước CHXHCNVN ký quyết định truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho Phùng Quán (cùng với Trần DầnLê ĐạtHoàng Cầm). Không biết dưới suối vàng ông có vui lòng lãnh nhận giải thưởng này không để đánh đổi cả cuộc đời bị đọa đày tủi nhục.

 

blank

Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)

Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)

Thơ Phùng Quán, đặc biệt là bài Lời Mẹ dặn (viết khi tác giả mới 25 tuổi), như kể chuyện, đơn giản đến mức ai cũng có thể viết được, nhưng nó lại có một sức hút kỳ lạ khó cưỡng vì chứa đựng một lý tưởng nhân văn thuần khiết và cao đẹp:

 

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
...

Rồi đến lúc lớn khôn, Mẹ dạy:

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
...

Đến khi trở thành nhà văn, tác giả tự nguyện:

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

 

Hơn nửa thế kỷ qua, bài thơ đã trở thành tài sản tâm hồn của nhiều thế hệ độc giả ở cả hai miền Nam Bắc. Chẳng có gì lạ mà sau này, trong tuyển tập 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ 20 của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục, Lời Mẹ Dặn được trang trọng in lại, dù vì nó mà tác giả đã long đong gần suốt một đời.

blank

Thơ đề trên thơ - Phùng Quán

Dịch giả Nguyễn Hiệu, nguyên Trưởng ban Tu thư của Đại học Vạn Hạnh và cũng là một bạn tâm giao với Phùng Quán, đã đưa ra lý do sâu xa của sự thù hận và trù dập ấy. Ông cho rằng bài thơ mang đậm tính phản kháng, trực tiếp chạm đến một nhân vật mà ai cũng biết, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Hiệu nhận xét:

 

"Bài Lời Mẹ Dặn nó có một ý nghĩa lớn. Đối với Phùng Quán, với tôi và rất nhiều người bởi vì bài thơ ấy anh viết năm 25 tuổi thôi nhưng anh đã nói những điều đại kỵ đối với miền Bắc trong ấy có bốn câu “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét / Dù ai ngon ngọt nuông chiều / Cũng không nói yêu thành ghét / Dù ai cầm dao dọa giết cũng không nói ghét thành yêu.”

 

Những câu này trực tiếp nhắm vào Hồ Chí Minh và nhắm vào giáo dục miền Bắc tức là không ai yêu Hồ Chí Minh cả nhưng mà từ nhỏ tới lớn mọi người được dạy là ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng? Cái câu của Phùng Quán bảo “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét” là câu chạm nọc họ kinh khủng lắm.

 

Cho nên đến năm 1995 thì họ muốn xoa dịu những người trong Nhân Văn - Giai Phẩm, họ hứa in cho mỗi người một tập thơ và 5 triệu tiền nhuận bút thế nhưng họ bảo với Phùng Quán là phải bỏ bài thơ “Lời Mẹ Dặn” ra, Phùng Quán nhất định không chịu và sau khi anh chết họ mới chịu in bài thơ này."

 
blank

Phần mộ của Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm

 

Phùng Quán mất ngày 22.01.1995 (cũng là ngày sinh của ông) tại Hà Nội. Sau khi vợ ông, nhà giáo Vũ Bội Trâm, qua đời năm 2010, thể theo lời di chúc của ông: Tôi sẽ đào nấm huyệt / Cạnh mồ cha mẹ tôi, gia đình đã đưa hài cốt ông bà về cải táng (năm 2011) tại quê nhà ở làng Thanh Thủy Thượng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Phần mộ trang nhã và khiêm tốn của họ - do bạn bè và những người ái mộ trong và ngoài nước quyên góp xây dựng (không phải 28 tỷ đồng trích từ ngân sách nhà nước) – chỉ chiếm một diện tích khoảng 20 mét vuông, nằm thoai thoải trên một triền đồi nhỏ, nhìn xuống một hồ nuôi cá và, cách đó không xa, một con đường làng nhỏ mang tên ông với một “Quán nhậu bình dân Phùng Quán”.

 

blank

Lưu Dân tại ngã ba đường Phùng Quán và quán nhậu bình dân Phùng Quán

Lưu Dân bên đường mang tên Phùng Quán và Quán nhậu bình dân Phùng Quán

Từ nay, Phùng Quán sẽ vĩnh viễn thoát khỏi cuộc đời “câu trộm, rượu chịu, văn chui” vì không ai còn có thể giam hãm hoặc cấm đoán một hồn thơ khẳng khái và chân thật của ông được. Hồ cá trước mặt, quán nhậu bên cạnh và văn của ông đã được người đời khắc lên trên đá.

(Nếu bạn có dịp đến thăm, ngôi mộ Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thi Bội Trâm nằm cách Thành phố Huế khoảng 6km về phía nam, trên đường đi phi trường Phú Bài. Bạn phải để ý kỹ vì chỉ có một tấm bảng nhỏ phía tay mặt ghi dòng chữ “Mộ Phùng Quán” dẫn vào một hương lộ có thể chạy xe hơi, khoảng 10 phút là tới.)

Theo lời kể của một người bạn thân trong gia đình, Phùng Quán đã có lần đến thăm Tố Hữu, khi người cậu là quan chức cao cấp của chế độ và đứa cháu lại là một nhà thơ phản động. Hai người chỉ dấm dẳng dăm câu vì không hợp nhau. Đại khái Tố Hữu có lời khuyên gì đó nhưng Phùng Quán không nghe và bỏ về. Sau, Tố Hữu lại nhắn: “Quán, đừng dại nữa!” Nghe chuyện, Phùng Quán cười: “Mình dại lâu rồi, nhưng chỉ muốn làm người chân thật.”

Bây giờ, cả hai đều đã trở thành người thiên cổ.

Thế mới hay, khôn (như Tố Hữu) cũng chết, mà dại (như Phùng Quán) cũng chết. Một khu lưu niệm hàng ngàn mét vuông trị giá tiền tỷ hay một phần mộ nho nhỏ tha hồ gió reo trên đồi cũng như nhau thôi. Chỉ còn lại trơ trơ ngàn năm một tấm bia miệng.

*************

[1] Câu vè này nói về Tố Hữu và Võ Nguyên Giáp. Tố Hữu từng nắm chức vụ Phó Thủ tướng phụ trách về kinh tế trong những năm 1980. Quyết định của Tố Hữu về “Giá, Lương, Tiền” đã khiến tốc độ lạm phát của Việt Nam lúc ấy tăng đến 770%. Trong thời gian này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị hạ tầng công tác do sự đấu đá nội bộ, Ông ta bị sỉ nhục bởi “công tác đảng giao” về làm Chủ tịch Ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch.

[2] Đoạn thơ này sau năm 1975 bị dân cà-phê vỉa hè “nhái” lại để mô tả hiện tượng cán bộ CS hủ hóa, bỏ bê gia đình chạy theo đào nhí: Lương anh đó chia ba phần to nhỏ / Anh dành riêng cho bả phần nhiều / Phần bao em và phần để anh tiêu / Em sẽ bảo thế cũng liều anh nhỉ...

 

[3] Trong một bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Lập, Phùng Quán thú nhận truyện Vượt Côn Đảo là… bịa. Hồi đó, ông nghe người ta kể lại một phần ông bịa ra chín phần. “… Cho đến ngày anh (PQ) ngồi kể cho mình (NQL) nghe, khoảng năm 85 – 86 chi đó, anh vẫn chưa biết Côn Đảo méo hay tròn. Trong đó có mấy câu anh tả con đường từ nhà tù ra Bãi Dương (trường bắn) được lót xương của các tù nhân bị án tử hình. Là anh bịa ra thế để nâng cao lòng căm thù Đế quốc thực dân chứ xương người làm sao lót được đường. Chẳng ngờ trong hồi ký của một ông ở tù Côn Đảo về (ông này nổi tiếng lắm, không dám nêu tên) khi viết về con đường này cũng tả y chang như anh, cũng con đường lót xương các tù nhân…”

 

“Cũng chuyện tù Côn Đảo, trong Trường ca Võ Thị Sáu, anh (PQ) viết tuổi 16 chị Sáu vẫn hái hoa lê-ki-ma cài tóc. Buổi sáng ngày bị hành hình, chị đã ngắt một nhành hoa lê-ki-ma cài lên mái tóc, trên đường ra pháp trường, vừa đi vừa hát. Anh đâu biết lê-ki-ma là cây gì, nghe cái tên đẹp thì tưởng hoa của nó chắc đẹp lắm. Sau này mới biết lê-ki-ma thực ra là cây quả trứng gà, hoa đã xấu lại đầy nhựa, “ngắt một nhành hoa cài mái tóc” có mà dở hơi… Anh Quán cười khà khà, nói sau này hễ viết về chị Võ Thị Sáu thì người ta lại bê nguyên chi tiết này vào, vui quá là vui.”

 

[4] “Sinh kế” của Phùng Quán trong suốt quãng đời bị trù dập là câu cá trộm (không có giấy phép) vào ban đêm ở các hồ quanh Hà Nội, nhiều nhất là ở Hồ Tây. Ông trở thành “thợ câu” do sự giúp đỡ và che chở của vài người bạn lính trong đơn vị cũ hâm mộ thơ ông. Ban đầu, ông không biết nghề, chật vật lắm mới đủ một bữa “cơm đầu ghế” (ngày nay gọi là cơm bụi), nhưng về sau ông trở thành một “chuyên gia bậc nhất” trong giới câu trộm. Phùng Quán tính rằng trong thời gian đăng đẳng đó, ông đã câu trộm được 4 tấn cá. Ông hứa rằng khi được “trở lại đời”, ông sẽ đến chợ Đồng Xuân lạy tạ những bà hàng đã mua cá chui của ông và đền cho họ những sáng tác tim óc của mình… cho công bằng.

[5] Khoảng năm 1969-70, Phùng Quán mượn tên một người em họ đang làm công nhân lâm trường ở Nghệ An để gửi bài dự thi viết về Lenin do tờ Phụ nữ Liên Xô tổ chức. Mục đích của ông là cố giật… giải an ủi, với phần thưởng là chiếc đồng hồ báo thức cho con gái đi học khỏi trễ giờ. Với thân phận phản động hạng nặng, Phùng Quán làm gì dám mơ một thứ hàng xa xỉ như vậy mà chỉ có cán bộ cấp cao mới có sổ mua. Nào ngờ, truyện ngắn Như con cò vàng trong cổ tích mà ông viết ngoáy trong hai ngày lại… chiếm giải nhất, với phần thưởng là một chiếc xe đạp. Báo hại người em họ của ông vừa lãnh giải thưởng văn học vào hạng giá trị nhất của Liên Xô vừa… đái trong quần, vì được báo đài cả miền Bắc ca tụng như “sản phẩm trí tuệ của giai cấp công nhân Viet Nam”. Sau này, khi biết tác giả thật, bộ máy tuyên truyền của chế độ cũng tắt tiếng luôn.

 (Bài do tác giả gửi tới Việt Báo)

****************



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.