Hôm nay,  

Gửi chị hàng xóm cũ

11/07/202221:13:00(Xem: 3718)

Truyện ngắn


alley-in-saigon


Năm tôi học lớp 12, con nhỏ xinh nhất lớp đi lấy chồng, mời gần cả lớp đi dự. Lần đầu tiên trong đời được đi ăn cưới với tư cách đã trưởng thành (tuổi 18, chớ không phải đi ăn theo bà con họ hàng chòm xóm), tôi và nhỏ bạn thân bàn tính, phải ăn diện trang điểm cho thật đẹp, nhưng ở tuổi đó, vào thời đó, hai đứa chẳng có một bộ đồ “make-up” nào. Hơn nữa, mấy anh chị lớn trong nhà tôi không đồng ý chuyện điểm phấn tô son ở tuổi học trò. Chúng tôi vẫn nhất quyết muốn được làm đẹp, bèn nhớ ra chị Hà trong xóm. Chị lớn hơn tôi 7, 8 tuổi, thuộc thế hệ mấy ông anh tôi, nhưng chị là “thần tượng” của tôi vì chị thông minh, xinh đẹp với dáng người cao ráo, nước da trắng và nụ cười duyên dáng hớp hồn bao chàng trai cùng xóm và khác xóm.

 

Cửa sau nhà tôi đối diện cửa sau nhà chị. Má tôi và má chị từng quen biết thân thiết, sau khi má tôi mất thì má chị hay qua nhà tôi mỗi khi có chuyện trọng đại như giỗ quảy, cưới hỏi, coi như thay mặt cho má tôi, nên tôi với chị cũng là chỗ “người nhà”. Thế là chúng tôi đến nhờ chị bí mật trang điểm cho hai đứa, tụi tôi mặc quần áo sẵn sàng, ghé qua nhà chị, trang điểm xong là đi thẳng đến đám cưới.

 

Chị la oai oái:

 

– Thôi, thôi! Anh chị nhà em đã cấm, sao chị dám làm chớ, mặc dù chị không tiếc chuyện trang điểm cho tụi em.

 

Tụi tôi năn nỉ:

 

– Chị làm ơn giúp tụi em! Đây là lần đầu tiên tụi em được làm người lớn, đám cưới này có bạn bè và nhiều người khác bên đàng chú rể, tui em nhất định phải… đẹp!

 

– Nói thiệt, chị thấy tụi bay tuổi mới lớn, má đỏ môi hồng tự nhiên, mắt sáng da căng quá đáng yêu, cần gì trang điểm nữa! Mà thôi, chị sẽ đánh chút phấn thơm và thoa chút son, nha!

 

Chúng tôi đành chấp nhận, dù sao có vẫn còn hơn không. Nhà chị có người nhà bên Mỹ gửi quà về, nên chắc chắn đồ trang điểm của chị thuộc loại “xịn”. Nhưng sau khi xong xuôi, chúng tôi nhìn vào gương vẫn không hài lòng, không thấy mình… lộng lẫy thêm tí nào. Hai đứa rủ nhau về nhà nhỏ bạn, mượn hộp trang điểm của chị dâu của nó, trét son lên môi đỏ chót, dặm mí mắt xanh lè, rồi tự tin mình đã “rực rỡ”, kêu xích lô đến tiệc cưới. Tưởng mọi chuyện êm xuôi, nhưng sau đó vài hôm, chị Hà gặp tôi, phàn nàn:

 

– Sao tụi em cãi lời chị, tô son kẻ mắt như bà đồng bóng, mất hết vẻ đẹp ngây thơ của tuổi học trò, bà chị của em mắng vốn chị kìa!

 

– Ủa, sao chị em biết chớ, trước khi về nhà đêm đó, tụi em đã xoá sạch hết màu son màu mắt mà?

 

– Làm sao chị biết được! Tụi bay làm mất uy tín của chị rồi!

 

Dĩ nhiên là tôi bị bà chị Cả và ông anh thứ tư (khó tính nhất nhà) mắng cho một trận nhớ đời. Sau lần đó, tôi đâu dám gặp chị vì biết chị còn giận, ai ngờ số phận đẩy đưa (chắc là mắc nợ nhau), vài năm sau đó, tôi và chị lại tái hợp trong một chuyến vượt biên.

 

Tờ mờ sáng hôm đó, hai chị em tỉnh dậy, (tối qua tôi đã qua nhà chị ngủ để sáng ra bến xe đi Miền Tây). Xuống dưới nhà, ba mẹ chị thắp nến bàn thờ Chúa, bốn người đọc 10 kinh, rồi mẹ chị gói hai gói xôi cho chúng tôi để vào giỏ hành lý. Chị hỏi tôi:

 

– Xuất phát cửa trước hay cửa sau đây?

 

– Cửa sau đi chị! Cửa trước sợ gặp mấy hàng xóm đi làm sớm, nhứt là chú Tư chạy xe ba gác!

 

Hai chị em bèn đi cửa sau, vừa bước ra gặp bên hông Chùa, tiếng mõ dìu dặt nhịp nhàng của buổi công phu sớm làm lòng tôi xao xuyến:

 

– Chị Hà ơi, nghe tiếng chuông chùa, tiếng mõ thân quen, em bước đi hổng đặng!

 

– Trời ơi! Nhà ngươi làm ơn bỏ cái tính cải lương sến sẩm, ưa mủi lòng đó được không? Cái miệng ăn mắm ăn muối nói tào lao, chưa ra bến xe đã chùn chân rồi!

 

– Úi, em xin lỗi chị! Nhưng lần sau tụi mình nên xuất phát cửa trước.

 

Chị đánh vào vai tôi thiệt mạnh:

 

– Lại nói bậy nữa rồi! Lần sau là sao? Bữa nay đi là đi luôn chớ!

 

– Dạ em xin chừa, từ giờ phút này hổng dám mở miệng nói gì nữa!

 

– Mà lỡ rồi, chị nói luôn nà, đi cửa trước sẽ qua nhà thờ, lại có tiếng chuông kêu Lễ sớm, mày lại xuyến xao bịn rịn, tốt nhứt là có cánh bay thẳng tới bến xe.

 

Hai chị em nhìn nhau cười mỉm chi. Vừa quẹo ra khỏi xóm Chùa ra đường cái, xung quanh các ngôi nhà vẫn ngủ im lìm trong bóng tối của trời nửa đêm về sáng, bỗng chị níu tôi lại:

 

– Ê, hình như ở phía xa có xe ba gác của chú Tư, mà còn có cả thím Tư ở trên xe nữa kìa, tính sao đây?

 

– Không xong rồi chị ơi! Thím Tư được xóm mình gọi là Thím “Tám” là chị đủ biết rồi đó! Vào đây núp đi chị!

 

Hai chị em tạt vào chiếc cổng của căn nhà bên đường, nép bên cột hàng rào. Tự dưng tôi rùng mình, nhìn lên cây dừa cao vút nơi góc sân căn nhà, run rẩy thì thầm:

 

– Chị Hà ơi… em… sợ… quá!

 

Chị cũng hoảng hốt:

 

– Vụ gì nữa đây?

 

Tôi chỉ cây dừa:

 

– Chị hổng nhớ gì sao!!

 

Tôi vừa dứt câu, chị cũng run lẩy bẩy. Căn nhà này, mới tuần trước, gia chủ có đám cưới, anh con trai trèo lên cây dừa hái lá để làm rạp cưới cho em gái, nhằm ngày trời mưa mới tạnh, dây điện giăng ngang cây dừa bị chập điên, anh ấy bị điện giựt nằm vắt vẻo đen thui trên ngọn dừa, cả xóm không ai dám nhìn, vậy mà khuya nay chúng tôi đang đứng dưới cây dừa, hỏi sao không toát mồ hôi hột? Chị Hà kéo tôi đi như chạy:

 

– Bây giờ có gặp mười thím “Tám” cũng chịu luôn em ơi!

 

Hai chị em vừa chạy, tuy sợ ma nhưng lại cười suốt cả đoạn đường cho đến lúc bắt được xe ra Xa Cảng thẳng tiến Cần Thơ. Chúng tôi ở Cần Thơ và Long Xuyên mỗi nơi vài ngày rồi đón xe lôi đến Sóc Trăng.

 

Đêm chờ ghe nhỏ tại ven sông Sóc Trăng, hai chị em thao thức, không ngủ được. Tôi hỏi:

 

– Tụi mình đi bất ngờ, chắc chị chưa có dịp chia tay chàng bác sĩ của chị ha?

 

– Ừa, chiều nhận tin là tối gói hành lý liền, đâu kịp gặp ai, nhưng chị có viết mấy lời, khi nào ảnh tới nhà thì má chị sẽ đưa.

 

– Chị nói gì ở trỏng?

 

– Chị ghi gọn gàng lắm: Anh Giao, em đi vượt biên, anh đừng chờ đợi!

 

– Trời, sao mà phũ phàng còn hơn Lan cắt dây chuông không cho Điệp vào thăm vậy trời!!

 

– Thì mình đi rồi, phải cho người ta tự do chớ! Còn em, có nhắn gì cho ai không?

 

– Dạ, em cũng chẳng kịp có thời gian suy nghĩ, không biết nên nhắn… cho ai!

 

Mà miệng tôi “ăn mắm ăn muối”thiệt, nói xui nói xẻo khi vừa bắt đầu, nên qua ngày hôm sau chúng tôi lại khăn gói trở về thành phố.

 

Chàng bác sĩ biết nỗi “đam mê” của chị nên hơn một năm sau, hai anh chị lên đường qua Cambodia rồi lên tàu vượt biển qua Thailand. Một năm sau tôi cũng đi theo, nhưng đến trại thì anh chị đã đi định cư, mãi hơn 20 năm sau hai chị em mới được tái ngộ tại Nam California.

 

Hôm nay tôi viết lại kỷ niệm này, mong chị đọc được, coi như tôi chuộc lại lỗi lầm cho lần… lỡ dại “điệu đà tuổi 18” và cái miệng “mắm muối” thuở nào!

 

Kim Loan

(Edmonton, cuối tháng 3/2022)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi tìm mãi chỉ được một vài bài đếm trên đầu ngón tay thôi. Tại sao vậy?
Hôm nay giống như một ngày tựu trường. Đơn giản, vắng một thời gian không ngồi ở lớp học, nay trở lại, thế là tựu trường. Ngày còn bé, mỗi lần nghỉ hè xong, lên lớp mới, trong lòng vừa hồi hộp vừa vui sướng. Có bao nhiêu chuyện để dành chờ gặp bạn là kể tíu tít. Nhưng bên cạnh đó là nỗi lo khi sắp gặp các thầy cô mới… Mỗi năm đều có ngày tựu trường như vậy, nói chung là khá giống nhau, trong đời học sinh. Nhưng cái ngày tựu trường này thật quá khác. Người ta nhìn nhau không dám cười, không dám chào hỏi. Sự e dè này, dường như mỗi người đã được tập luyện qua một năm. Một năm “học chính trị” trong cái gọi là hội trường mà tiền thân là cái rạp hát.
Cái tên Michelin không xa lạ gì với chúng ta. Vỏ lốp chiếc xe tôi đang dùng cũng mang tên Michelin. Sao hai thứ chẳng có liên quan chi lại trùng tên. Nếu tôi nói chúng tuy hai mà một chắc mọi người sẽ ngây người tưởng tôi… phiếm.
Phi là một người bạn đạt được những điều trong đời mà biết bao người không có. Là một tấm gương sống sao cho ra sống để chết đi không có gì hối tiếc. Là một niềm hy vọng cho sự tử tế vốn ngày càng trở nên xa xỉ ở nước Mỹ mà tôi đang tiếp tục sống.
Có một lần đó thầy kể lại chuyện rằng, thầy có một phật tử chăm chỉ tu học, đã hơn 10 năm, theo thầy đi khắp nơi, qua nhiều đạo tràng, chuyên tu chuyên nghe rất thành kính. Nhưng có một lần đó phật tử đứng gần thầy, nghe thầy giảng về phát bồ đề tâm, sau thầy có đặt một vài câu hỏi kiểm tra coi thính chúng hiểu bài tới đâu? Cô vội xua xua tay, “bạch thầy, những điều thầy giảng, con hiểu hết, con hiểu hết mà. Con nhớ nhập tâm. Nhưng đừng, thầy đừng có hỏi, bị là con không biết trả lời làm sao đâu.” Có lẽ là cô hiểu ý mà cô chưa sẵn sàng hệ thống sắp xếp thứ tự lại các ý tưởng.
Ở xứ ấy, người ta ngủ đến trưa mới dậy. Chàng nhớ thế khi nghĩ về mùa xuân, mùa hạ, mùa thu khi còn bé, mỗi lần nghĩ thế, đều lấy làm ngạc nhiên, và lấy làm ngạc nhiên về sự ngạc nhiên ấy. Thế mà giữa một thành phố châu Âu, chàng lại gặp chúng. Trên nền tường trắng và mặt biển xanh, giữa những màu xanh và trắng, chỉ hai màu ấy, đôi khi xanh và đỏ, chàng gặp lại chúng, hồ hởi, tưng bừng, nó và chàng như hai thằng bạn thời mặc quần xà lỏn nay gặp nhau
Lơ đảng nhìn mây trời và đèn đường, tôi từ tốn chuyển xe sang tuyến trái để cua. Cha tôi thường nói, “Con phải tập bỏ tính lơ đểnh, nếu không, sẽ có ngày gặp phiền phức.” Nhưng lơ đểnh là nơi nghệ sĩ lang thang, ngẫu hứng tìm thấy những sáng tạo không ngờ. Chợt thoáng trong hộp kính nhìn lui, thấy chiếc xe đen nhỏ bắn lên với tốc độ nguy hiểm, tôi chuyển xe về lại bên phải, sau gáy dựng lên theo tiếng rít bánh xe thắng gấp chà xát mặt đường, trong kính chiếu hậu, một chiếc xe hạng trung màu xám đang chao đảo, trơn trợt, trờ tới, chết rồi, một áp lực kinh khiếp đập vào tâm trí trống rỗng, chỉ còn phản xạ tự động hiện diện. Chợt tiếng cha tôi vang lên: “đạp ga đi luôn.” Chân nhấn xuống, chiếc xe lồng lên, chồm tới như con cọp phóng chụp mồi. Giữa mơ hồ mất kiểm soát, tử sinh tích tắc, tôi thoáng nhận ra trước mặt là thành cây cầu bắt qua sông.
Danh đi làm lúc 5 giờ sáng, ra về lúc 2 giờ trưa, từ sở làm đến đây khoảng 10 phút đường phi thuyền bay. Giờ này vắng khách. Những lúc khác, buôn bán khá bận rộn. Áo quần lót ở đây khắn khít thời trang, từ đồ ngủ may bằng vải lụa trong suốt, nhìn xuyên qua, cho đến hàng bằng kim loại nhẹ, mặc lên giống chiến sĩ thời xưa mang áo giáp nhưng chỉ lên giường. Hầu hết khách hàng đến đây vì Emily và Christopher. Người bàn hàng độc đáo. Họ đẹp, lịch sự, làm việc nhanh nhẹn, không lầm lỗi. Cả hai có trí nhớ phi thường. Không bao giờ quên tên khách. Nhớ tất cả món hàng của mỗi người đã mua. Nhớ luôn ngày sinh nhật và sở thích riêng. Ngoài ra, họ có thể trò chuyện với khách về mọi lãnh vực từ triết lý đến khoa học, từ chính trị đến luật pháp, từ du lịch đến nấu ăn… Khách hàng vô cùng hài lòng
Sau hơn ba mươi năm gắn bó với cuộc sống ở Mỹ, ông Hải và bà Lan quyết định về hưu và bắt đầu một chương mới của cuộc đời. Quyết định này, mặc dù bất ngờ với những người xung quanh, lại xuất phát từ một ước mơ giản dị-sống những ngày cuối đời an nhàn tại quê hương. Hai ông bà đã dành dụm được một khoản lương hưu kha khá, cộng thêm số tiền đầu tư từ kế hoạch lương hưu 401k, đủ để họ cảm thấy có thể an tâm sống thoải mái ở Việt Nam.
Mẹ chị vừa bước qua tuổi 90, cụ đã bắt đầu lẫn, không tự săn sóc mình và không dùng máy móc được nữa. Bố chị mới mất cách đây hai năm và Mẹ chị xuống tinh thần rất nhanh sau khi Bố mất. Bắt đầu là buồn bã, bỏ ăn, thiếu ngủ, sau đi tới trầm cảm. Chị đi làm bán thời gian, giờ còn lại cả ngày chạy xe ngoài đường đưa đón mấy đứa nhỏ, hết trường lớp thì sinh hoạt sau giờ học. Chị không thể luôn ở bên Mẹ. Chị tìm được nhà già cho Mẹ rất gần trường học của con, lại gần nhà nữa, nên ngày nào cũng ghé Mẹ được, Mẹ chị chỉ cần trông thấy chị là cụ yên lòng.
Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.