Hôm nay,  

Kinh Tế Thế Giới 2010

30/12/200900:00:00(Xem: 9571)

Kinh Tế Thế Giới 2010

Mai Vân RFI và Nguyễn Xuân Nghĩa

Bong bóng đầu cơ và thất nghiệp : mối đe doạ cho các nền kinh tế trên đà ra khỏi suy thoái năm 2010...

Sau một năm đen tối, các nhà kinh tế trước ngưỡng 2010 đều lạc quan khẳng định tình hình dứt khoát sẽ tươi sáng hơn. Cơ sở cho những đánh giá lạc quan này là gần như hầu hết các quốc gia rơi vào suy thoái, đều đang nối lại với tăng trưởng, ngoại trừ một số nước như Bồ Đào Nha, Island, Ireland. Dự báo cho năm 2010 đang đến, tăng trưởng Hoa Kỳ sẽ hơn 2%, khu vực Châu Âu yếu nhất nhưng cũng được gần 1%, khoẻ mạnh nhất là Châu Á, với Trung Quốc dự báo tăng 9%, Ấn Độ 7%, Việt Nam 5%, và Châu Mỹ La tinh dẫn đầu là Brazil với tăng trưởng dự báo 4%.
Thành quả đạt đươc, theo giới chuyên gia, chủ yếu là nhờ các kế hoạch kích thích kinh tế mà các nước từ Châu Ấu, Châu Mỹ, Châu Á đã đồng loạt đưa ra. Tuy nhiên các nhà phân tích còn rất thận trọng : kinh tế toàn cầu dù triệt thoái khỏi suy thoái nhưng chưa hẳn lành bệnh, và có thể rơi trở lại vào khủng hoảng.
Mối đe doạ lớn là bong bóng đầu cơ. Thất nghiệp rất cao cũng sẽ đè nặng lên đà vực dậy kinh tế. Theo số liệu của tạp kinh tế Pháp L'Expansion, số công việc làm mà khủng hoảng vừa qua đã hủy diệt lên đến 6 triệu ở Mỹ, riêng Pháp cũng đã có đến 500.000, và sẽ có thêm 200.000 người khác mất việc làm vào năm tới đây. Để hiểu thêm tình hình sắp đến, vững vàng đến đâu, thách đố như thế nào, RFI đã đặt một số câu hỏi với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California, điểm qua những dự báo về viễn ảnh kinh tế 2010.
RFI: Xin kính chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Nhìn chung vào tình hình kinh tế cuối năm 2009, giới nghiên cứu kinh tế thế giới đều dự đoán rằng năm tới có vẻ khả quan hơn dù còn nhiều triệu chứng bấp bênh. So với các chu kỳ suy thoái trước thì lần này tình hình có vẻ nhẹ hơn cho nên người ta đã hy vọng là năm tới sẽ tốt hơn" Và thưa anh có phải đó là nhờ các kế hoạch kích thích kinh tế không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vụ Tổng khủng hoảng thời 1929-1933 có góp phần đưa tới Thế chiến II. Từ sau Thế chiến II, kinh tế thế giới cũng có lúc thịnh lúc suy nhưng lần này mới thật là một vụ suy thoái toàn cầu vì các nền kinh tế đều hội nhập buôn bán với nhau một cách quy mô và sâu xa chưa từng thấy. Tuy nhiên, cũng vì có hội nhập và đều e sợ một vụ tổng khủng hoảng nên từng nước đều lập tức có biện pháp ứng phó và còn cố gắng phối hợp với nhau để cùng ứng phó. Nhờ vậy mà các nước đã đẩy lui nguy cơ khủng hoảng và lần lượt đụng đáy rồi hồi phục.
- Trả lời câu hỏi thứ hai thì trong lịch sử kinh tế thế giới chưa khi nào các quốc gia đã đồng loạt phản ứng như vậy, với một lượng tiền được bơm vào kinh tế lên đến con số kỷ lục. Nói cho dễ hiểu thì khối tiền lệ lưu hành trong kinh tế gần như tăng gấp đôi. Còn về cụ thể thì tùy tình hình quân bình vĩ mô, có nước thiên về giải pháp tiền tệ là cắt lãi suất tới tận sàn, hạ mức dự trữ pháp định để khuyến khích ngân hàng cho vay dễ dàng hơn, thậm chí in tiền bơm vào kinh tế, gọi là "tăng mức lưu hoạt có định lượng" là chuyện xưa nay mới chỉ thấy áp dụng tại Nhật năm 2001. Có quốc gia khác thì thiên về giải pháp ngân sách như gia tăng công chi và/hoặc giảm thuế, nếu chưa bị bội chi ngân sách quá nặng. Nhiều nước thì áp dụng cả hai ba loại biện pháp áy. Riêng trong quan hệ giữa các nước với nhau thì xứ này còn muốn xứ khác tăng chi để kích hoạt kinh tế hầu cho mình đỡ phải gánh việc đó, là chuyện xảy ra khi Chính quyền Barack Obama muốn các nước Âu Châu phải tăng chi nhiều hơn và thực tế là bị Âu Châu cự tuyệt.
RFI : Dạ thưa anh, trong việc ra khỏi suy thoái, nếu mà nhìn từng khu vực thế giới, các nhà kinh tế dự báo như thế nào cho năm tới "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, người ta dự báo là kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng bình quân là 4% trong năm tới. Nếu ta nhớ đến mức tiêu chuẩn là "dưới 3% có nghĩa là thế giới suy trầm" thì còn số 4% này là điều đáng mừng, nhưng vẫn còn thấp hơn trung bình của năm năm trước khi bị suy trầm, là 5%. Nôm na là đã hết bệnh nhưng chưa bình phục như trước.
- Thứ hai, tỷ lệ 4% là kết quả tổng hợp của hai khối kinh tế. Mười nước đã công nghiệp hoá thì chỉ đạt tốc độ bình quân có 2%, trong khi các nước đang phát triển có hy vọng đạt được 6,5%. Điều ấy có nghĩa là các nền kinh tế công nghiệp hoá sẽ là đầu máy rất yếu cho thế giới và nước nào mà trông cậy vào việc xuất khẩu cho các nền kinh tế đó để ra khỏi suy trầm thì sẽ thất vọng.
- Trong 10 nước công nghiệp hoá, Hoa Kỳ sẽ hồi phục nhanh nhất nhưng không mạnh vì chưa đạt mức 3% mà chỉ chừng 2,8% là nhiều. Âu Châu đi sau với tỷ lệ èo uột từ 1,2% đến 1,4% thôi và thất nghiệp sẽ còn tăng trong khi thất nghiệp tại Mỹ có hy vọng giảm dần, dù là rất chậm. Riêng Nhật Bản thì còn bị suy trầm và sẽ là quốc gia có vấn đề, với một đà tăng trưởng có 0,7%. Đó là lý do vì sao Nhật còn phải nghĩ đến nhiều biện pháp kích thích kinh tế trong khi các nước khác bắt đầu triệt thoái khỏi tình trạng gọi là bất thường hiện nay bằng cách hút bớt tiền ra khỏi kinh tế để không gây ra nguy cơ bong bóng đầu tư hay lạm phát, hoặc cả hai.
RFI: Thưa anh nếu như vậy thì có lẽ hy vọng của thế giới nằm tại các nước đang phát triển, nhất là tại Châu Á "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa chỉ một phần nào thôi. Chúng ta nên nhớ là trong tốc độ bình quân toàn cầu là 4% thì tốc độ của các nước giàu chỉ có chừng 2%, các nước đang phát triển thì 6,5%. Trong khối này, có Trung Quốc và Ấn Độ dẫn đầu với 10% và 8%, có Liên bang Nga sẽ đạt hơn 5% nhưng có thể lại tuột đáy - tức là bị suy trầm nữa, thậm chí suy thoái và khủng hoảng chính trị - và có Brazil với chừng 4,8%. Vấn đề là các nước đang phát triển này phải có khả năng cải cách từ căn bản đề mở rộng sức tiêu thụ nội địa thay vì lệ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu sang các nước công nghiệp hoá. Việc cải cách thật ra đòi hỏi một nỗ lực thay đổi tư duy và cơ chế.


- Trong khi ấy, các nước này cũng gặp bài toán cực kỳ tế nhị là triệt thoái khỏi suy thoái, nghĩa là hút bớt tiền đã bơm ra, và làm cho khéo để khỏi rơi lại vào suy trầm, nếu không triệt thoái thì tiền sẽ lại bơm vào bong bóng, như người ta đang thấy tại Trung Quốc và Việt Nam.
RFI: Riêng về hai nước này, nhũng thách thức gì là quan trọng nhất trong năm tới"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì cả hai đều tận dụng giải pháp tín dụng là bơm tiền qua ngân hàng vào kinh tế trong một cơ chế vẫn chưa tự do thông thoáng nên sẽ gặp hai nguy cơ là bong bóng đầu cơ và ngân hàng suy sụp dưới núi nợ xấu. Cả hai lại duy trì chính sách ngoại hối có kiểm soát là buộc giá đồng bạc vào tiền Mỹ theo tỷ giá cố định và bất thường, nên những khó khăn ấy dẫn tới vấn đề ngoại hối. Đó là mâu thuẫn về trị giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc với các nước khác và gây tranh chấp về mậu dịch khi kinh tế của các nước công nghiệp hoá vẫn còn yếu.
- Tại Việt Nam, chế độ hối đoái ấy - lẫn hậu quả của suy trầm toàn cầu nên đầu tư và tiền trợ giúp từ nước ngoài gửi về đều giảm - rất dễ gây ra khủng hoảng ngoại hối và cả nạn lạm phát.
RFI : Thưa anh, nhìn chung thì ảnh hưởng kinh tế Hoa Kỳ đối với thế giới sẽ ra sao, có còn là đầu máy kinh tế cho Châu Á như trước đây hay không "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Hoa Kỳ đang ra khỏi suy trầm nhưng tình hình còn bấp bênh và niềm tin của thị trường chưa phục hồi nên ngân hàng trung ương sẽ rất thận trọng khi điều chỉnh lãi suất kể từ giữa năm tới trở đi để ra khỏi tình trạng lãi suất âm như hiện tại. Trong hoàn cảnh đó, kinh tế xứ này khó làm đầu máy tăng trưởng cho các nước như trước đây. Huống hồ các kế hoạch tăng chi để cải tạo xã hội sẽ khiến xứ này mắc nợ tới mức kỷ lục và dân Mỹ sẽ chi tiêu dè xẻn hơn vì sự bất trắc đó. Vì vậy, thị trường nhập khẩu để tiêu thụ sẽ còn yếu và mâu thuẫn về mậu dịch càng dễ xảy ra với Chính quyền đang bị sức ép rất mạnh của xu hướng bảo hộ mậu dịch.
- Ngoài ra, ta không quên một vấn đề là giá xăng dầu tăng vọt trong năm 2008 có góp phần gây ra suy trầm. Nếu bất ổn bùng nổ tại Iran vì khủng hoảng bên trong và vì hồ sơ võ khí hạch tâm với bên ngoài mà dẫn tới cấm vận hay giao tranh tại eo biển Hormuz thì nạn dầu thô lên giá sẽ lại đẩy kinh tế toàn cầu vào cơn biến động khác trong năm tới. Vì vậy, ta chưa nên nổ xâm banh ăn mừng vội!
RFI: Nếu phải tóm lại tình hình kinh tế thế giới năm tới thì anh sẽ thu gọn trong một câu như thế nào "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là phải triệt thoái ra khỏi nạn suy thoái nhưng mà triệt thoái cho khéo, phải cân nhắc cho kỹ, và cái yếu tố quan trọng nhất là niềm tin của thị trường. nếu thị trường có tin tưởng, thì tín dụng có thể hoạt động mạnh một cách tự phát, lúc đó chính quyền có thể rút bớt tiền trở về được. Nếu mà không có thì chúng ta vẫn còn gặp rất nhiều bấc trắc.
RFI: Thưa anh, các chính phủ phải làm thế nào để tạo lại niềm tin cho các thị trường hầu ra khỏi suy thoái một cách vững vàng"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ đầu tiên hết là trong cái hệ thống ngân hàng. Tại vì từ khủng hoảng tài chính nó mới lây lan sang kinh tế. Nếu các hệ thống ngân hàng được chấn chỉnh lại, có thể hoạt động lại bình thường, và với một hệ thống kiểm soát tinh vi hơn nhưng đồng thời không bóp nghẹt sáng kiến của họ, thì có thể giúp giải tỏa tình trạng ách tắc tín dụng hiện tại.
- Nếu ách tắc tín dụng hiện tại vẫn còn kéo dài, thì các hệ thống ngân hàng trung ương của cả bên Âu Châu lẫn bên Hoa Kỳ, và các nước khác nữa vẫn chưa dám hút bớt tiền ra, và khi đó chúng ta vẫn lại thấy ra tình trạng rất bấp bênh: tiền ở nơi cần thì không có và những nơi không cần thì vẫn được bơm vào, lại có thể dẫn lên những nguyên nhân đưa đến khủng hoảng khác trong tương lai, tức là lại tạo nên những bong bóng và khi bóng bể thì chúng ta lại có nạn suy trầm.
RFI: Về chính sách kinh tế, hiện nay nhiều người đề xuất là từ Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ, tất cả đều phải tập trung vào thị trường nội điạ. Anh nghĩ thế nào về đề xuất này "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Cái điều đó đúng, và có thế người ta mới tái lập lại quân bình gọi là toàn cầu. Tức là xưa nay các nước đang phát triển đều thắt lưng buộc bụng để bán hàng vào các nước đã phát triển. Và các nước đã phát triển thì mua hàng hóa của các nước kia với giá rẻ, và làm cho cà hai khối đều lệ thuộc với nhau và bây giờ thì cái khả năng mua hàng các nước công nghiệp hoá đã giảm, thành ra nếu mà họ không có tạo điều kiện cho cái thị trường nội địa là cái đầu máy chính thì sẽ gặp khó khăn.
- Ngược lại các nước đang phát triển, nhất là tại các nước Á Châu tập trung vào chiến lược lấy xuất khẩu làm đầu máy, thì cái xuất khẩu vào ba nền kinh tế lớn, Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản, đều èo uột như chúng ta vừa thấy, thì các nước đang phát triển sẽ thấy là phải có nhu cầu giải phóng cơ chế sản xuất và phân phối trong nước để cho thị trường nội điạ là đầu máy chính thay vì chỉ có trong cậy vào thị trường xuất khẩu thôi. Mà cái tình trạng gọi là tái lập quân bình này đòi hỏi nhiều biện pháp cải cách mà có thể rằng là một hai năm mới có thể thấy kết quả.
- Do đó tình hình trong năm tới không còn u ám như năm 2009, nhưng mà nó vẫn chưa sáng sủa, cho đến khi các nước rút tỉa được các bài học của cái trận gọi là tổng suy thoái vừa rồi.
RFI: Xin cám ơn kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa tại California.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.