Hôm nay,  

Phật Đản: Đức Phật Dạy Gì?

28/05/201000:00:00(Xem: 8316)
Phật Đản: Đức Phật Dạy Gì"  
                       
Tuyết Mai
Hằng năm vào ngày rằm Tháng Tư Âm Lịch (cuối Tháng Năm duơng lịch năm nay) hằng triệu Phật tử trên thế giới, từ thành thị đến thôn quê, từ rừng sâu đến biển cả, ở các nước Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Trung hoa, Đài Loan, Tây Tạng,  Nhật Bản, Đại Hàn, Thái Lan, Việt Nam, Cao Miên, Lào…  nô nức đến chùa đón mừng ngày Khánh Đản. Phật tử hân hoan đến chùa  lễ Phật để tỏ lòng kính ngưỡng sự  hóa độ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Trước khi tìm hiểu Đức Phật dạy gì, nên nói qua tiểu sử. Đức Thích Ca Mâu Ni  là một Thái Tử, có tên là Tất Đạt Đa, họ là Cù Đàm, sống ở Miền Bắc Ấn Độ vào thế  kỷ VI trước Tây Lịch. Thân phụ Ngài là Quốc Vương Tịnh Phạn, cai trị bộ tộc Thích - Ca, ở xứ Nepal ngày nay. Mẹ Ngài là Hoàng Hậu Ma-Gia. Ngài kết hôn rất sớm, năm 16 tuổi  với Công Chúa Da-Du-Dà-La và có một con là La Hầu La.
Thái tử Tất Đạt Đa sống trong cung vàng điện ngọc với đầy đủ những xa hoa vật chất, khi có dịp ra ngoài thành thấy cảnh sống khổ sở của kiếp người như già, lão, bệnh, tử… Ngài quyết ra đi tìm con đường giải thoát khỏi cảnh khổ.  Năm 29 tuổi Ngài rời  bỏ cung điện, đi vào rừng sâu tầm đạo.
Sau sáu năm khổ hạnh tu tập với nhiều đạo sư, Ngài  không thỏa mãn với những lý thuyết cũng như cách hành đạo khổ hạnh của họ. Ngài đã vạch ra  một con đường riêng cho mình. Rồi một đêm kia dưới cội bồ đề, bên bờ sông Ni-liên-thiền Ngài được chứng đạo (enlightment). Từ đó Ngài  được tôn xưng là Phật Thích Ca Mâu Ni,  năm đó Ngài 35 tuổi.
Sau đó Ngài đi giáo hóa suốt 45 năm khắp nơi ở Ấn Độ, năm 80 tuổi Ngài nhập diệt ở Câu-thi-na. Ngài đã nhập diệt trên hai ngàn năm trăm năm nhưng đã để lại cho nhân loại một  kho tàng giáo lý vô cùng thâm sâu mầu nhiệm; không những phù hợp với sự phát triển của khoa học hiện đại mà còn vượt xa hơn nữa mà khoa học cần phải tìm hiểu và khám phá để minh xác giáo lý của Ngài là chơn lý.
Khoa học gia vĩ đại của thế kỷ 20  Albert Einstein đã  tuyên bố: “Nếu có một tôn giáo nào có thể thích nghi với nhu cầu  của khoa  học hiện đại thì đó là Phật Giáo. Phật Giáo không cần duyệt xét quan niệm của mình để cập hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không phải từ bỏ những quan niệm của mình để chấp nhận khoa học. Phật giáo là chiếc cầu  nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật Giáo đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính nó và trong môi trường sống chung  quanh nó. Phật giáo  siêu việt qua thời gian và mãi mãi có giá trị.”
Đức Phật Thích Ca  đã dạy phật tử những gì" 
Phật dạy  “Từ, Bi, Hỷ, Xả” và tận diệt “Tham,  Sân,  Si” vì đó là nguồn gốc của khổ đau.  Phật cũng dạy bản thể của vạn  vật là VÔ THƯỜNG, đổi thay trong từng sát na ( một phần ngàn giây), VÔ NGÃ là không có tự tính. Vạn vật trên thế gian này là do nhân duyên hợp thành, không có chủ thể cố định. Do không có thực thể cố định nên vạn vật là giả tạm.
Giáo lý Duy Thức, Vi Diệu Pháp là những môn học quan sát, nghiên cứu  về tâm và những phương pháp chuyển hóa những tâm niệm xấu ác thành tâm niệm lành mạnh, chuyển hóa một con người phàm phu trở thành một vị thánh hiền.
Đức Phật cũng giải thích tại sao chúng ta  có mặt trên đời và khi chết thì đi về đâu" Tại sao cùng sinh ra trên đời mà lại có ngừơi giàu, kẻ nghèo, người sang, kẻ hèn, kẻ thông minh người ngu dốt, người đẹp kẻ xấu, ngừơi sống lâu kẻ chết yểu vv.. Sở dĩ có sự  sai khác giữa chúng sinh là do  “Nhân -  quả”  chi phối. Gieo nhân nào thì gặt quả nấy. Trồng cam, có quả cam; trồng quít, có quả  quít. 

 Phật thấy rõ nguyên nhân của dòng sinh tử là do động lực của  vô minh. Từ vô minh mà phát sinh ra Hành, rồi phát sinh Thức,  phát sinh Danh sắc, từ Danh Sắc phát sinh Sáu căn: xúc, thọ, ái, chấp, thủ, hữu, sanh. Từ sanh đưa đến  già, bệnh, chết. Nếu chặt đứt được một trong mười hai  nhân duyên  thì dòng sanh tử sẽ chấm dứt.
 Phật dạy: Vạn vật do duyên hợp mà có, duyên tan sẽ trở về KHÔNG. Chữ “Không” vô cùng quan trọng trong Đạo Phật. “Không” không có nghĩa đối nghịch với “có” , mà  KHÔNG đây là không chủ thể, không cố định, ví như đám mây, tụ đó rồi tan đó, có đó rồi không đó, thương đó rồi ghét đó. Vạn vật là hư ảo. “Có “ và “không” đều là giả tạm. Phật dạy: “ thấy được lý nhân duyên là  thấy được chân lý. Nếu chúng ta chấp “giả” là “thật”  thì chúng ta là người si mê.
Chữ “Nhẫn” cũng rất quan trọng trong đạo  Phật. Kinh Pháp Cú có câu :” Thắng một vạn quân không bằng thắng chính mình. Thắng chính mình mới là chiến công oanh liệt”. Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta gặp rất nhiều điều bất đắc ý. Nếu chúng ta không có sức chịu đựng, không có sự kiên nhẫn thì chúng ta sẽ đau khổ triền miên.  Đức Phật dạy: “ chỉ một đóm lửa sân nhỏ sẽ đốt cháy cả một rừng công đức”. Nếu chúng ta luôn nghỉ tới đạo đức,  nghỉ tới công phu của mình tu tập thì đừng để những cơn nóng giận khởi lên.
Nhẫn nhục với người: Đối với những chuyện phiền lòng  mà chúng ta bỏ qua hết, không buồn giận thì đó là chúng ta nhẫn nhục với người. Chúng ta cũng phải nhẫn với hoàn cảnh, phải chấp nhận những khó khăn trong cuộc sống.  Gương nhẫn nhục và từ bi được thể hiện qua câu chuyện trong dân gian về  Đức Quan Thế  Âm bị nghi oan. Đức Quan Thế Âm không hề chứng minh. Với lòng từ bi và nhẫn nhục cuối cùng Ngài được tôn thờ là một vị Phật.
Có hằng ngàn pháp môn (cửa) để vào nhà Phật. Lời Phật dạy quý giá vô cùng, nếu chúng ta cố gắng ứng dụng những lời Phật dạy vô đời sống hằng ngày thì chính mình bớt khổ đau và những người chung quanh cũng nhờ ơn phước này mà được hạnh phúc lây. Chúng ta tu theo Phật là để được “giải thoát”. Không phải đợi đến sau khi chết mới được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử  mà  hãy phấn đấu, tự thắng,  để tự giải  thoát mình ra khỏi những cuồng si, vọng tưởng, sân hận,  phiền não trong từng giây phút sống hiện tại.  “Mỗi bước đi trong cuộc hành trình là chính cuộc hành trình” . Nói khác đi đời sống của chúng ta là nối kết của những giây phút sống hiện tại. Thật là tội nghiệp cho những ai bỏ quên, đánh mất hiện tại cho những mộng tưởng hão huyền xa xôi.
Đức Phật không bao giờ tự nhận mình là “Đấng Toàn Năng”, tạo ra vũ trụ, mà Ngài tuyên bố một cách rất bình đẳng “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” (nếu đi theo đạo -  con đường Phật dạy).  Nên tu tập bằng cách giữ giới và thiền định. Khi  thân tâm được an lạc thì sẽ phát sinh huệ (trí, định, tuệ).  Nhờ phát huệ, Đức Phật đã thấy biết sự việc đúng như thật. Còn chúng sinh vì vô minh thấy và biết không đúng nên đau khổ và tạo nhân  bất thiện nên phải chịu nghiệp  báu khổ đau và sinh tử luân hồi. Mục đích duy nhất của Phật hiện ra trong đời là chỉ cho chúng sanh “ngộ nhập tri kiến Phật”, tức thấy biết như Phật để giải thoát sinh tử và chấm dứt khổ đau.
Đức Phật Thích Ca đã rời bỏ vật chất xa hoa, cung vàng điện ngọc,  tu tập sáu năm trong rừng già và 49 ngày nhập định dưới cây bồ đề, Đức Phật đã thành  Phật (enlightment) ngay lúc tim còn đập, máu còn chảy, còn thở ra thở vào như chúng ta trên thế gian. Chúng ta cũng có thể thành Phật,  hãy cố tận diệt THAM SÂN SI, phát huy TỪ BI HỶ XẢ như lời Phật dạy.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.