Hôm nay,  

Diệt Sợ Hãi

07/06/201916:42:00(Xem: 6085)

blank

Phạm Văn Bản


Đọc hồi ký của Lý Quang Diệu, một mẫu người diệt sợ hãi: Vào buổi sáng thứ Hai, tháng 2, năm 1942 khi đoàn chiến xa Nhật Bản lăn bánh trên đường phố Tân Gia Ba, nghiền nát mộng xâm lăng của thực dân Anh trên đảo quốc sư tử này, và sau đó từng đoàn người dân bị bắt, tải lên xe với bao nỗi kinh hoàng than khóc, trong số ấy có người thanh niên Lý Quang Diệu. Ông nghĩ rằng, nếu mình không “diệt sợ hãi” mà lại tòng phục quân Nhật thì sẽ không còn cơ hội mà trở lại phục vụ quê hương… chợt nảy sinh ý định trốn giặc, ông đã vượt thoát thành công. Cũng buổi chiều hôm ấy, tất cả mọi người đã bị bắt lên xe, đều bị lính Nhật tàn sát, ngoại trừ thanh niên họ Lý sống sót. Lý Quang Diệu thoát chết, và ông không bao giờ quên cuộc thảm sát những người đồng hương trước họng súng bạo hành của chế độ quân phiệt Nhật Bản. Sau chiến tranh ông vào trường đại học Cambridge, Anh Quốc và tốt nghiệp luật sư; về nước năm 1950, ông là thành viên trong đảng Quốc Gia (Nationalist Party), ông nhiệt tình hăng say hoạt động và tạo cho mình vị trí lãnh đạo và trở thành một người danh tiếng.


Lý Quang Diệu tự tin vào khả năng biện luận của mình, ông đứng ra tố cáo những người theo khuynh hướng chế độ chủ nghĩa xã hội (socialism) và chủ nghĩa thực dân (colonialism) đã làm cho nước Tân Gia Ba của ông, chịu nghèo nàn lạc hậu và chậm tiến. Sau 9 năm tranh đấu cho độc lập của dân nước, năm 1959 Lý Quang Diệu chiếm chức Thủ Tướng và thành lập đảng Nhân Dân Hành Động (People’s Action Party), từ đó ông thành công trong vai trò của nhà lãnh đạo Tân Gia Ba, làm cho đất nước này trở thành giàu đẹp và danh tiếng vang vọng khắp thế giới. Thủ tướng Lý Quang Diệu về hưu năm 1990, sau 31 năm cầm quyền lãnh đạo đất nước, ông còn đó để chứng kiến một tương lai rực rỡ với niềm tự tin tự hào của người hành xử bài học diệt sợ hãi trong cuộc đời của mình.


I. Vấn Đề Sợ Hãi


Tại sao người lại sợ người?  - Vì thiếu tự chủ. Tại sao người sợ khả năng? - Vì thiếu tự tin. Sợ là đối lực của tự tin. Sợ là kẻ thù của thành công. Sợ là chướng ngại của việc giúp dân cứu nước. Sợ làm ta bỏ lỡ cơ hội.


Sợ khiến ta mệt mỏi chán chường. Sợ nhắc ta im lặng khi muốn nói. Sợ ru ta an phận nô lệ nhóm bạo quyền. Sợ làm ta liệt kháng trước bất công. Tất cả các nỗi sợ hãi đều bắt nguồn từ khi chúng ta lo lắng, hốt hoảng mà tưởng tượng ra. Sợ khởi đầu bắt nguồn từ trí óc, sợ lan dần ra chân tay, sợ giết chết niềm tự tin và tự hào dân tộc. Vậy, muốn thành công chúng ta phải diệt sợ hãi để xây dựng niềm tin của chính mình. Và muốn diệt sợ hãi, chúng ta cũng phải truy tầm ra căn nguyên lo sợ và tìm phương pháp trị liệu. Để diệt trừ sợ hãi, xây đắp niềm tin chúng ta cần thực hành hai bước như sau:


- Phân loại sợ, tìm hiểu đích xác xem chúng ta đang sợ cái gì.

- Tìm hành động chữa trị, và hoạt động thích ứng với loại sợ đó.


Khi chạm trán với thử thách, khi đối diện với khó khăn, khi đứng trước những công việc lớn nhỏ mỗi người thường có một phản ứng riêng. Có người nhìn sự việc đó với vẻ ung dung nhàn hạ, họ bước tới trả lời “Tôi làm được!” Có người nhìn công việc với một thoáng do dự suy tư rồi đứng yên bất động. Có người vừa chưa thấy rõ sự kiện thì họ đã hoảng hốt và lo lắng sợ hãi. Như thế, những người ung dung nhàn hạ, niềm tin tỏa rạng ở bất cứ nơi đâu hay bất cứ lúc nào kia, phải chăng họ sinh ra là có sẵn niềm tin?


Không. Chắc chắn là không ai sinh ra mà đã có sẵn niềm tin. Những người ấy, họ đã chinh phục lo âu, xóa tan sợ hãi, thu đạt tự tin mỗi lần một ít, và từ từ mà có nhiều để tới lúc họ tràn đầy tự tin.

Mọi người trong chúng ta cũng có cùng tiến trình phát triển, có khác chăng là ở môi trường thuận lợi hoặc bất lợi. Ví dụ, hai em bé cùng vóc dáng và cùng lứa tuổi được mẹ chở tới trường học. Một em vừa tới lớp là nhập bọn và vui vẻ nô đùa… nhưng em kia thì ôm chặt chân mẹ và sợ hãi khóc thét… mặc cho mẹ vỗ về: “Không sao đâu con, có gì mà sợ?” Và người mẹ cố tách em đứng ra xa chừng nào, thì em lại càng níu áo mẹ ghì chặt vì sợ hãi. Mặc cho mẹ em nhắc nhở rằng đừng sợ, thì em lại càng sợ hãi hơn. Nỗi sợ hãi càng tăng, càng tồn tại và hiện hữu nơi em, trong em.


Vậy có phải vì bẩm sinh mà một em dạn dĩ, và một em nhút nhát không? Chắc chắn là không. Em dạn dĩ thì cũng đã phải trải qua những nỗi sợ hãi như em kia. Giờ này, sở dĩ em có được sự can đảm và tự tin để làm bạn với các bạn cùng trường bởi em đã đi chơi nhiều lần. Những trò chơi gặp mặt, tiếp xúc với chúng bạn đã làm cho em quen thuộc, em không còn sợ nữa.

Để phân loại bệnh sợ hãi, chúng ta có thể xem bộ óc con người như một ngân hàng. Mỗi ngày thu thập dữ kiện từ những điều tai nghe mắt thấy, điển hình: các em bé ốm yếu chìa xương, các cụ già rách rưới lang thang, các thiếu phụ bơ vơ trong nỗi đau mất chồng do chiến tranh gây ra… Các cảnh tượng này càng ngày càng lớn dần trong ngân hàng trí nhớ, rồi khi phải suy nghĩ hoặc phải đối diện với trở ngại, thì ngân hàng trí nhớ sẽ hỏi, “Có gặp trở ngại này chưa?

Tiếp đến ngân hàng trí nhớ sẽ cung cấp những tin tức liên quan đến vấn đề đang gặp phải, rồi đào sâu, phân tích, lượng định, tổng hợp, đúc kết và đề ra biện pháp giải quyết trở ngại… theo chiều hướng tốt, xấu, can đảm, tự tin hay yếu hèn, sợ hãi… cũng do bởi ngân hàng trí nhớ tích lũy mà ra.


Vì thế, chúng ta muốn diệt trừ sợ hãi để xây dựng tự tin, thì cần thực hiện hai điều:


- Thu vào ngân hàng trí nhớ của mình những hình ảnh tốt đẹp, hăng hái, thành công.

- Loại bỏ ngân hàng trí nhớ những hình ảnh xấu xa, ù lì, thất bại.


Hãy tập thành thói quen, mỗi đêm trước khi đi vào giấc ngủ, chúng ta ôn lại trong trí nhớ về những điều tốt việc đẹp mà mình đã thấy, đã làm trong ngày. Và từ đó, chúng ta tìm kiếm ra nguyên nhân giúp mình vui sống và làm việc bằng cách thoải mái; đừng cho những mầm mống bi quan, đen tối có cơ hội tồn tại trong tâm trí của mình.


Vẫn biết sợ hãi phát sinh là do tâm lý, và muốn chữa trị thì ta phải dùng tâm lý mới trị liệu được. Nhưng nhà tâm lý học cũng phải đành bó tay, nếu người nhiễm bịnh không chịu thực hiện một điều mà chỉ có chính người nhiễm bịnh sợ hãi đó mới có khả năng làm được. Đó là diệt trừ tư tưởng bi quan, chán nản, tuyệt vọng.


Hầu hết những con bịnh sợ bắt nguồn từ tư tưởng bi quan, chán nản, tuyệt vọng, và những cuộc thất bại đã thường khởi đầu từ bịnh sợ.


Có nhiều gia đình phải đổ vỡ vì do con bịnh sợ mà ra. Họ sợ nên không dám đối diện với sự thật. Họ sợ nên không dám nói ra những điều mình không vừa ý. Họ sợ nên họ bị rơi xuống vực thẳm của tuyệt vọng.


Và cũng bởi chính bịnh sợ, mà nó đã tạo nên những thiên tình sử đẫm lệ, những khúc bi ai khôn tả. Cũng vì sợ, mà khi ta yêu không dám tỏ tình. Cũng vì sợ, mà để cho người yêu bước lên xe hoa về nhà chồng, thì lúc đó ta âm thầm đau khổ, ôm mối tình sầu và oán trách đất trời sao nỡ gây cảnh éo le, phân ly, bẽ bàng. Tất cả vì sợ mà không dám nói!


Có nhiều người sợ nên đã bỏ lỡ cơ hội tiến thân. Trong nghề nghiệp hoặc ngoài xã hội, có nhiều người sợ rằng mình kém khả năng, không dám đương đầu với vai trò được giao phó. Có nhiều người sợ bạo quyền đến nỗi từ bỏ cả bạn bè thân thiết, không dám đến tiếp xúc, không dám nghe điều hay lẽ phải.


Tôi xin đơn cử một mẫu người diệt sợ hãi để thành công, đó là nhân vật lịch sử Lý Quang Diệu thủ tướng của đất nước Tân Gia Ba. Muốn tìm hiểu ông Diệu xóa tan nỗi sợ như thế nào, chúng ta hãy xem lại một phần đời sống cũng như sinh hoạt chính trị của ông.


Lý Quang Diệu biết mở mắt và nhìn ra thế giới bên ngoài, từ một buổi sáng giông tố của ngày Thứ Hai, Tháng Hai, năm 1942, khi thiết đoàn chiến xa Nhật Bản nghiền nát mộng xâm lăng của thực dân Anh tại bán đảo Tân Gia Ba, một vùng đất vốn sẵn an toàn với bao hứa hẹn, thì nay bỗng dưng con người lâm cảnh đói khát sợ hãi.

Quân phiệt Nhật gieo rắc kinh hoàng vào những tháng ngày cuối cùng của cuộc chiến. Từng đoàn người lũ lượt bị bắt tải lên xe với bao kinh hoàng trên nét mặt. Trong nhóm những người bị bắt và kinh hãi ấy, có chàng thanh niên Lý Quang Diệu, chàng nghĩ rằng nếu mình lại khuất phục quân xâm lược, thì chàng sẽ chẳng còn có cơ hội trở về… Đang lúc căng thẳng, lo âu, bối rối thì chàng họ Lý quyết định trốn trại… và những người bị bắt hôm ấy đã bị quân Nhật tàn sát ngay sau đó.


Lý Quang Diệu đã thoát chết, từ đó ông đã không quên bao nỗi kinh hoàng khiếp sợ của những người đồng hương với ông, trước họng súng bạo nghịch, phản văn minh, xử dụng luật rừng mà chém giết của đám quân phiệt Nhật.


Sau chiến tranh, Lý Quang Diệu vào học đại học Cambridge ở Anh Quốc, tốt nghiệp và trở về Tân Gia Ba vào năm 1950, từ một thành viên bình thường của Đảng Quốc Gia (Nationalist Party), ông đã diệt sợ hãi, đã nhiệt tình và hăng say hoạt động để tự tạo cho mình thành người lãnh đạo tên tuổi.


Lý Quang Diệu tự tin vào khả năng biện luận của mình, nên ông đã đứng ra tố cáo chế độ theo chủ nghĩa xã hội (socialism) và chủ nghĩa thực dân (colonialism) đã làm cho nước ông nghèo nàn, tụt hậu và chậm tiến.


Sau 9 năm tranh đấu cho độc lập của xứ sở, năm 1959 Lý Quang Diệu chiếm chức thủ tướng, và thành lập ra Đảng Nhân Dân Hành Động (People’s Action Party). Từ đó ông đã thành công trong vai trò của một nhà lãnh đạo Tân Gia Ba, làm cho nước này trở thành giàu đẹp và tiếng tăm vang dội khu vực Châu Á rồi lan ra khắp thế giới.


Thủ tướng Lý Quang Diệu về hưu năm 1990, sau 31 năm cầm quyền lãnh đạo đất nước. Ông còn đó để chứng kiến tương lai rực rỡ của Tân Gia Ba với niềm tự hào và hãnh diện, mà ông đã hành xử bài học diệt sợ hãi trong cuộc đời của ông.


* * * *


Tại sao người lại phải sợ người? Có phải vì ta mắc cở, thiếu tự tin, thiếu tự chủ khi trước đám đông?

Ta cũng không thể từ chối những hiện tượng sợ người xảy ra nhan nhản trước mắt. Muốn chinh phục, muốn điều trị căn bệnh này, thiết tưởng có cách là người ấy đặt mình vào trường hợp như câu chuyện người cháu trai dưới đây:


Cháu cũng Diệt Sợ Hãi. Nhớ lại ngày mới đi nghĩa vụ, cháu rất nhút nhát và mắc cở. Cháu sợ người, sợ hết mọi người, sợ cán bộ cấp trên, vì cháu sinh ra trong nghịch cảnh thất trận của cha bác. Bởi thế sau năm 1975 cháu không được phép theo học như lớp bạn cùng tuổi, con cháu cán bộ. Và cái học của cháu, cháu được bố cháu cho chuyển sang học nghề, nhưng lớp thợ tiện của cháu lại chỉ học chính trị, học về chủ nghĩa Mác-Lê, hay học tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhìn vào thế giới bao quanh, cháu cảm nhận cháu vô cùng nhục nhã, cháu thua thiệt mọi người. Cháu thấy ai cũng thông minh, ai cũng giỏi hơn cháu về mọi mặt. Cháu sợ người, cháu sinh ra trong thất bại!


Một hôm cơ duyên may đến với cháu, giúp cháu giảm bớt nỗi sợ. Cháu được chuyển về làm một cấp nhỏ trong Viện Quân Y 121, nơi đây cháu gặp gỡ tiếp xúc với nhiều người: người cấp cao, người cấp thấp, người hàm to hàm bé đủ loại. Nguồn gốc nghề nghiệp cũng khác biệt, người sinh viên, người làm nông, người buôn bán… Cháu thấy họ ai cũng giống nhau. Ai mà chẳng thích ăn ngon mặc đẹp, ai mà chẳng muốn học hành, ai mà chẳng nhớ vợ nhớ con. Nhìn chung, họ cũng giống cháu, chẳng có điểm nào khác lạ làm cháu phải sợ họ. Nếu thất học thì cháu tự học, cháu mất dần cảm giác sợ người, lúc đó cháu mới nhớ ra lời bác hai khuyên cháu, “Tự học, tự thắng để chỉ huy, cháu ạ!” Cháu cảm nghiệm câu chuyện Diệt Sợ Hãi này mà bố cháu thường kể về ngày bác hai và gia đình xuống tam bản vượt biên năm xưa.


Bởi đó, cháu khám phá ra, truy cứu ra nguồn gốc của căn bệnh sợ người, cháu sợ vì thiếu văn hóa trường lớp. Và diệt sợ hãi, cháu tự học, học lớp bổ túc, học được chút nào hay chút ấy. Cháu học thuộc lòng và luôn suy nghĩ về những ý tưởng trong bài viết của bác hai. Sau ngày phục viên, cháu về làm việc ở xã nhà, cháu muốn có cơ hội phục vụ cho bà con họ hàng nhà mình, và được bầu làm chủ tịch xã như hôm nay.


Tương tự diệt sợ hãi của người cháu, để chữa trị ta cần khởi đầu với hai nguyên tắc căn bản là (1) tự đặt mình vào hoàn cảnh, vào cùng vị trí ngang hàng với người tiếp xúc. Khi tiếp xúc, ta nghĩ họ (người tiếp xúc) là quan trọng, thì ta cũng là người quan trọng. Ta và họ là hai con người, hai nhân vật quan trọng gặp nhau để bàn bạc, thảo luận những gì mà hai bên cùng có lợi, hữu ích. (2) phát huy phong cách hiểu biết đúng đắn của mình. Trong thảo luận ta cần biểu lộ một thái độ biết lắng nghe, thành thật lắng nghe những ý kiến đúng. Tuyệt đối tránh ý tưởng rằng người ta đang là kẻ đối diện mình, họ không biết gì.


Ngoài bệnh sợ người, ta còn nỗi sợ hãi tiềm ẩn từ trong tâm khảm, từ trong trạng huống bất an như trường hợp của người cháu. Từ tinh thần bất hạnh trong cuộc sống, suy nhược bởi thời thế, thất bại nơi trường ốc, thua thiệt ngoài trường đời… làm gia tăng bệnh sợ hãi. Những nỗi sợ hãi ấy đã hình thành do tâm lý, phương pháp chữa trị cũng cần có một nhà tâm lý học như trong câu chuyện xảy ra sau đây:


Có người mẹ trẻ 30 tuổi với hai đứa con, bà đang rơi vào tình trạng tuyệt vọng. Bà nhìn lại cuộc sống đã qua, chỉ thấy những điều đau khổ và bất hạnh. Những năm tháng cắp sách đi học, những tháng năm lo gánh vác giang sơn nhà chồng… rồi nhu cầu các con với những tháng năm ở nơi mà bà cư ngụ, thì bà chẳng thấy niềm vui mà chỉ tràn ngập bóng tối, khiếm khuyết hạnh phúc. Những sự kiện buồn nản đã in sâu vào trong ký ức của bà, nhà tâm lý học không thể xóa hết những hình ảnh đau khổ trong thâm tâm của bà ngay cùng một lúc. Ông phân ra từng phần nhỏ, do kinh nghiệm của ông, để chữa trị cho bệnh nhân này. Ông chứng minh cho bà thấy cơ hội chuyển mình vươn lên thay vì ngồi than thở, ngắm nhìn bóng tối tuyệt vọng. Ông yêu cầu bà mỗi ngày viết xuống giấy ba việc làm cho bà vui, và đến ngày hẹn, ông đọc lại hết những điều bà vừa ý. Ông giữ phương pháp chữa trị đó liên tiếp ba tháng thì có kết qủa. Bà đã loại bỏ tư tưởng bi quan trong trí óc và bà đã thấy được niềm vui, từ đó bà ngẩng cao đầu đi tới với nếp sống có niềm tin mãnh liệt.


Xem xét câu chuyện trên, ta thấy nhà tâm lý học đã giúp bà mẹ trẻ kia xóa tan sợ hãi, làm lại cuộc đời bằng cách thay thế dần những hình ảnh bi quan, đen tối, tuyệt vọng bằng những hình ảnh lạc quan, tươi sáng, tràn đầy hy vọng và ông đã thành công.


Ở đời có một nỗi sợ đã giết dần giết mòn niềm tự tin, đó là việc làm sai trái. Và làm sao mà ta phân định được việc làm nào đúng, việc làm nào sai? Khách quan mà xét, thì không ai có thể khẳng định được việc làm đúng hoặc sai, trừ khi đương sự có tham dự, có nhìn nhận, có tự xét việc làm đó khi hoàn tất.


- Một gia đình đang sống hạnh phúc, bỗng dưng một trong hai người vợ hoặc chồng đã tạo cuộc tình bí mật với người khác. Mặc dù hành động phản bội chưa ai biết, nhưng người gây ra trong một lúc nào đó cũng ân hận và cảm thấy mình có lỗi, khiến cho họ thường hốt hoảng, mất dần mất mòn niềm tự tin.


- Vì tham vọng cá nhân bất chính, có người dùng thủ đoạn gian manh, tàn ác mà ám hại người ngay thẳng liêm chính. Cho tới khi đạt được mục đích thì lương tâm của họ lại bị cắn rứt, khiến cho họ tinh thần căng thẳng và giảm dần niềm tự tin.


- Trong thương trường có người dùng mưu kế mà lường gạt kẻ khác, rồi dần dà không còn ai tin nữa. Từ đó họ trở thành kẻ cô đơn và mất tự tin.


Bởi thế trong việc xây dựng niềm tự tin cho thanh niên Việt ngày nay là, “Suy nghĩ đúng, hành động đúng giúp ta thêm tự tin.” Ngoài việc diệt trừ sợ hãi chúng ta cần phải hành xử đúng đắn, vì chính việc hành xử đúng đắn mới gíup cho tâm của chúng ta bình, trí của chúng ta được thảnh thơi. Ngược lại, người làm sai thường bị lương tâm cắn rứt, và họ tự giết chết niềm tự tin, hơn thế nữa, kẻ gian dối lường gạt, sớm muộn thì người ta cũng sẽ phát giác, và không còn ai tin tưởng người ấy nữa.


Những nguyên tắc xây niềm tự tin:


- Ngồi phía trước

Trong các cuộc hội họp, lớp học, cơ quan, hãng xưởng, nhà thờ, chùa chiền… muốn tạo được sự tự tin người thanh niên Việt chúng ta nên hiên ngang bước vào những hàng ghế đầu, bởi vì những người ngồi ở hàng ghế sau thường là những người sợ diễn giả hay chủ tọa chú ý, thấy mặt. Họ thiếu tự tin.


- Nhìn thẳng

“Mắt là cửa sổ tâm hồn.” Khi chúng ta nhìn thẳng vào con mắt của người đối diện, ánh mắt của chúng ta sẽ cho họ biết con người của chúng ta, và ngược lại. Nếu chúng ta không dám nhìn thẳng, tức là chúng ta vẫn còn cảm thấy mình nhỏ bé, thua kém và sợ người. Nhìn thẳng là tự tin, là chúng ta chinh phục được sợ người.


- Bước nhanh hơn bình thường

Tôi về Việt Nam thấy mọi người đều chậm chạp, và chúng ta cần sửa lại. Bước nhanh khiến chúng ta cảm nhận rằng mình tự tin, bước nhanh để nói với thế giới bao quanh: “Tôi có việc quan trọng phải làm, tôi có chỗ quan trọng phải tới. Tôi sẽ thành công và tôi bắt đầu ngay từ bây giờ.”

- Tập phát biểu ý kiến

Chúng ta cần tập góp ý, phê bình, đặt câu hỏi trong mỗi cuộc hội họp ở bất cứ nơi đâu. Đừng sợ người khác ganh tị, ghen ghét, hay chê bai… vì nếu họ không đồng ý với lập luận đúng đắn mà chúng ta đề ra, thì cũng còn nhiều người muốn nghe và đồng ý với chúng ta. Phát biểu là điều kiện xây dựng niềm tự tin.


- Cười lớn

Chúng ta cảm thấy như thế nào khi mình cười lớn trong lúc thất bại. Cười lớn giúp chúng ta thêm tự tin, cười lớn phá tan sợ hãi, cuốn trôi bận tâm thất bại, để ta xắn tay áo lên mà làm tiếp, dựng lại cuộc sống an lạc thanh bình hạnh phúc. Cười là liều thuốc tuyệt hảo của tự tin. Ngược lại vẫn có ít người cố gắng cười trong lúc mình gặp sợ hãi hay thất bại.


Bạn hãy cười để thấy sức mạnh nụ cười của bạn.


Tóm lại người thanh niên Việt chúng ta hãy diệt trừ sợ hãi, và xây dựng niềm tin hôm nay để thành công ngày mai trên tiến trình Giúp Dân Cứu Nước.


Phạm Văn Bản

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.